Articles by "Triết lý sống"
1001 bí ẩn nhân loại 3D - 6K - Bluray Video Full Adobe After Effects Adobe Collection Adobe Dreamweaver Adobe Flash CS6 Adobe InDesign CC Adobe Photoshop Ảnh cấm trẻ em dưới 18+ Ảnh giải trí Trung Quốc Ảnh nghệ thuật 3D Ảnh Nude Bí quyết sống khỏe mỗi ngày Bí quyết trị mụn Chuyện của Adam Chuyện của Eva Chuyện gì cũng biết Công dụng - Ngôn ngữ hoa Du lịch Miền Tây Du lịch Miền Trung - Bắc Du lịch thế giới Đồ họa Collection Ecosphere For baby Collection Góc mua sắm Hoa đẹp bốn mùa nên xem Hoa Phong Lan Hòn non bộ Phong thủy Iêu công nghệ mới Khám phá khảo cổ học Khám phá khoa học Khám phá Sinh học Kho công cụ hỗ trợ dựng Flim Kho sách khổng lồ Không gian đẹp Khu vườn đẹp Phong thủy Kỹ thuật chăm sóc hoa Làm đẹp toàn với thiên nhiên Lập trình - Đồ án Món ngon nhớ lâu Món ngon từ Nam ra Bắc Nghệ thuật âm nhạc Nguồn gốc lịch sử Nhạc chất lượng cao file gốc Nhạc độc - hiếm Nhạc mp3 Collection Những bài thơ tình yêu lãng mạn hay nhất Phần mềm làm Video - Nhạc Rau - Củ - Quả với sức khỏe Scandal - Sock Star - Showbiz Thế giới động vật Thơ tình có lời bình Thơ về Thầy cô - mái trường thân iêu Thủ thuật download nhạc - Video Online Thủ thuật HĐH Windows - Ghost Windows Thủ thuật Windows 10 Thủ thuật Windows 7 Thủ thuật Windows 8 Thuốc quý cho Adam - Eva Tôi iêu Việt Nam Tổng hợp tất cả về Photoshop Trang thơ tình Collection Tri thức nhân loại Triết lý sống Về An Giang Về Bình Định Về Đà Nẵng Về Khánh Hòa Về Kiên Giang Về Lào Cai Về Miền Tây Về Ninh Thuận Về Quảng Nam Về thành phố Hồ Chí Minh Video Asia Full Video ca nhạc Video gì cũng có Collection Video hướng dẫn tập Yoya Video Thúy Nga Paris by Night Full Why do we die? Y học - Sức khỏe kỳ diệu

(Haitaynamkg) Ngọc trai Phú Quốc là sản phẩm hấp dẫn đối với du khách chuộng vẻ đẹp cổ điển mà quý phái. Để không nhầm hàng, du khách cần chuẩn bị cho mình những kiến thức cần thiết về ngọc trai. Tất nhiên, “hầu bao” cũng phải rộng rãi vì giá ngọc trai không rẻ chút nào...

Du lịch Phú Quốc (Kiên Giang), nhiều du khách không khỏi thích thú trước vẻ đẹp của ngọc trai đất đảo. Ai từng đi Phú Quốc chắc hẳn cũng biết được thiên nhiên hào phóng ban tặng cho vùng đất này những cảnh quan đẹp, an toàn trước những cơn thịnh nộ của biển cả và là điều kiện tốt để nuôi cấy ngọc trai. Bởi thế, ngọc trai Phú Quốc được xếp trong nhóm ngọc trai đẹp nhất thế giới.

Ngọc trai là một trong những “đặc sản” của Phú Quốc. Ảnh: sưu tầm

Không khó để tìm ra những gian hàng trưng bày và nuôi cấy ngọc trai khi du lịch Phú Quốc. Trong vài năm trở lại đây, người dân du lịch Phú Quốc đã nhanh chóng nắm bắt những kỹ thuật nuôi cấy ngọc trai của Úc và Nhật Bản để đưa công nghệ nuôi cấy ngọc trên đảo thêm một bước tiến mới. Ngọc trai truyền thống có màu trắng sữa, một số quý hiếm có màu đen tuyền, hổ phách… Với công nghệ hiện đại, con người có thể “ép” trai ra những viên ngọc theo những hình thù, màu sắc theo ý muốn, như hình trái tim, giọt mưa, vuông, tam giác, hình thoi…. Vì vậy, sự phong phú của ngọc trai đất đảo đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách. Song, cũng chính vì thế mà ngọc trai Phú Quốc lại “vàng thau lẫn lộn” nên du khách cần lưu ý khi mua ngọc trai.

Ngọc trai ở xứ du lịch Phú Quốc chỉ chiếm khoảng 20% thị trường ngọc trai trên đảo, ngọc trai tự nhiên lại càng hiếm. Với những người sành ngọc trai, quan trọng nhất là màu sắc, độ bóng của ngọc. Những người yêu nét đẹp cổ điển và quý phái của ngọc trai thường chọn ngọc màu trắng sữa, loại ngọc này rất phổ biến và dễ kết hợp với trang phục. Sang trọng hơn thì có ngọc trai màu đen. Theo các chuyên gia, ngọc trai thật có thể tự “làm lành” các vết trầy xước khi người sử dụng lỡ làm trầy. Lớp vỏ bao ngọc trai rất dày và có độ bóng mờ, viên tròn đều. Độ bóng sáng là tiêu chuẩn quan trọng trong việc đánh giá chất lượng của viên ngọc, thông qua mức độ phản chiếu ánh sáng trên vỏ ngọc. Độ sáng của ngọc được xác định bởi chất lượng của lớp xà cừ cũng như độ dày của lớp ngọc bao phủ.

Độ sáng bóng của ngọc trai là tiêu chuẩn xác định giá trị. Ảnh: sưu tầm

Hình dáng viên ngọc đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị. Ngọc trai có thể chia thành các nhóm cơ bản: tròn, bầu dục, giọt nước, bầu… Từ xưa đến nay, chuẩn mực của một viên ngọc chính là độ tròn đều không tì vết của nó.

Một viên ngọc trai quý có giá hàng chục triệu đồng. Ngọc trai màu đen, giá trên 1.000 USD/viên (10-12 ly). Thịnh hành nhất là giá khoảng 1 triệu đồng/viên. Để tránh bị nhầm lẫn, du khách cần tham khảo những người có kinh nghiệm về lĩnh vực này và chọn mua ở các địa chỉ có uy tín. Hai điểm mua ngọc thường được đưa đến trong các tua du lịch là cơ sở Cội Nguồn và Công ty Liên doanh Ngọc trai Việt – Úc. Nhiều cửa hàng bán quà lưu niệm trên đảo cũng bày bán các loại ngọc trai phổ thông. Tuy nhiên, khi mua khách hàng cần lựa chọn kỹ vì sản phẩm mua rồi không được đổi lại.

Cần cách ly ngọc trai với những hoá chất – Ảnh: sưu tầm

Để ngọc trai bền đẹp và kéo dài tuổi thọ ngọc, bạn cần cách ly ngọc trai với những hóa chất chứa clo, các loại axit, các hóa chất có trong nước hoa, mỹ phẩm, không để ở nơi có nhiệt độ quá cao. Thêm vào đó là bạn nên bảo quản ngọc trai trong túi vải mềm, tránh ma sát trực tiếp với bề mặt cứng dễ gây trầy xước lớp vỏ bọc bên ngoài.

Với những kinh nghiệm nho nhỏ này, chúc bạn lựa chọn được những viên ngọc trai “chuẩn” và ưng ý khi du lịch Phú Quốc nhé!

(Haitaynamkg) Giải mã bài thơ “PHONG KIỀU DẠ BẠC” của Trương Kế
image
Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên,
Giang phong, ngư hoả đối sầu miên.
Cô tô thành ngoại Hàn San tự,
Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền.

Tạm dịch :
Trăng lặn, quạ kêu, sương kín trời,
Lửa chài, cây bến trước buồn ngơi.
Hàn San chùa cổ ngoài Cô phủ,
Khuya khoắt chuông vang vọng tới người.

Đây là một tuyệt tác của nhà thơ Trương Kế và cũng là một kiệt tác của thơ Đường.Từ khi ra đời cho tới nay, nó đã được các nhà thơ cũng như những nhà nghiên cứu quan tâm bình giảng. Tựu trung ai cũng đều công nhận đây là một kiệt tác. Tuy nhiên rất ít người bình giảng bài thơ này một cách toàn diện, mà chủ yếu là tập trung vào việc chú thích các từ ngữ, trong đó thường tập trung ở câu 2 và 4. Từ đó người ta thường nghĩ : Vì buồn nên nhà thơ không ngủ được, vì không ngủ được nên nhà thơ mới có được bài thơ tuyệt tác này để lại cho đời. Nghĩ như thế có lẽ do cụm từ “ĐỐI SẦU MIÊN” trong câu 2. Chính vì vậy câu này đã có nhiều ý kiến khác nhau. Còn vấn đề nghĩa của hai từ “DẠ BÁN” ở câu bốn đến nay vẫn chưa giải quyết được.

- Vậy nghĩa của từ “sầu miên” như thế nào? Có phải TK do buồn vì thấy cảnh trăng lăn, quạ kêu mà không ngủ được hay vì một lý do nào khác?

- Có đúng là chuông chùa Hàn San được đánh vào lúc nửa đêm không? Hay là đây là một ngữ bịnh(tỳ vết) của bài thơ?

- Thông điệp mà TK muốn gởi đến người đọc là gì?
Trước hết xin ghi lại đây cách dịch và hiểu của một số dịch giả về bài bài thơ này :

Đêm neo thuyền ở bến Phong Kiều

Câu 1
Trăng lặn, quạ kêu,sương đầy trời,

Câu 2:
1- Nguyễn Quảng Tuân: “Khách nằm trong thuyền ngó ra ngoài thấy hàng cây phong ở trên bờ sông và những ánh đèn thuyền chài trước bến trong lòng sinh ra buồn bã nên cứ mơ màng không ngủ được”.(1)

2- Nguyễn Khuê: “Hàng cây phong bên bờ sông và ánh đèn thuyền chài đối cùng khách đang thao thức sầu”.(2)

3- Nguyễn Thị Bích Hải : “Cây phong bên bờ sông, ngọn lửa đèn chài,(khách) ngủ với nỗi buồn”.(3)

4- Nguyễn Cảnh Phức: “Rặng cây phong bên bờ sông và ngọn lửa trên thuyền chài đang đối diện với nhau mà ngủ một cách buồn rầu”.(4)

Câu 3
Ở ngoài thành Cô Tô có chùa Hàn San

Câu 4
Trần Trọng Kim, Tản Đà dịch :
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.(5)

Ngô Tất Tố dịch :
Tiếng chuông đưa đến bên đò canh khuya.

Bùi Khánh Đản dịch :
Đêm muộn chuông ngân vẳng đến thuyền.

Trần Trọng San dịch :
Nửa đêm chuông vẳng đến thuyền ai.

Nguyễn Khuê dịch :
Thuyền khách đêm khuya vẳng tiếng chuông.

Còn rất nhiều người dịch bài thơ này, ở đây xin nêu một vài người tiêu biểu.

Như vậy câu 2 đã có nhiều ý kiến khác nhau. Câu 4 tuy có nhiều cách dịch như thế, chủ yếu là dựa vào cảnh trong bài thơ chứ đến nay chưa ai lý giải tại sao “DẠ BÁN” lại được dịch như vậy. Do đó hai từ “DẠ BÁN” vẫn chưa giải quyết được.

Ngoài những ý kiến trên, còn có một số ý kiến khác về các từ Giang phong, ngư hoả, sầu miên như sau: Nguyễn Dậu trong bài “Đôi điều thâu lượm quanh Hán tự” viết:(6)

“Nếu ai có dịp đi qua Cô Tô, hãy đến cầu Phong ở phía tây thành có bến Cô Tô. Hai bờ sông có hai ngọn núi đối ảnh sơn, một núi mang tên Giang Phong một núi mang tên Ngư Hoả. Vậy Giang Phong và Ngư Hoả trong thơ không dính gì đến cây phong và lửa nhà chài cả”.

Còn trong quyển “ Hội đồ Thiên Gia thi” (7) Chung Bá Kính có ý kiến khác như sau:
Nguyên văn:
“Giang Phong thị danh, Sầu Miên sơn danh, Ngư Hỏa thuyền thượng hoả, Cô Tô thành tức Tô Châu thành, Hàn San tự hữu Phật danh Hàn San, Nguyệt Lạc, Ô Đề dạ thâm chi thời dã. Tư thời sương lạc mãn thiên, Giang Phong thị chi ngư hoả điểm điểm dữ Sầu Miên sơn tương đối nhi thành ngoại tự chung dạ bán thanh văn vu khách thuyền chi thượng giang, trung dạ cảnh cái như thử ”(*)

Tạm dịch:
“ Giang Phong tên chợ, Sầu miên tên núi, Ngư hoả là ánh lửa trên thuyền chài, Cô Tô thành tức thành Tô Châu, Hàn Sơn tự có Phật tên Hàn San, Nguyệt lạc, Ô đề nghĩa là đêm đã khuya. Vào lúc ấy sương xuống đầy trời, những ánh đèn chài bên chợ Giang phong lấp lánh cùng đối diện với núi Sầu miên mà (trong lúc ấy) tiếng chuông chùa ở ngoài thành Cô Tô nửa đêm vọng tới khách thuyền trên sông, cảnh trong đêm là như vậy”.

Sau bài viết của ông Nguyễn Dậu, ông Mai Quốc Liên đã viết rằng :
“Chẳng lẽ tất cả các học giả người Trung Hoa đều dốt địa lý và quan liêu ngồi nhà chú sai, hiểu sai thơ đến như thế”(8).

Ông Lý Việt Dũng đã viết trong báo Văn Nghệ như sau:
“GIANG PHONG” và “NGƯ HOẢ” phải hiểu là “cây phong bên sông và ánh lửa của người thuyền chài” vì “tuyệt nhiên chưa từng thấy sách nào chú đó là tên hai ngọn núi cả”.(9)

Còn đối với cách chú giải của Chung Bá Kính thì tôi thấy có nhiều điều không hợp lý có thể nêu ra sau đây:

- Tại sao chợ Giang Phong chỉ có đèn chài không thôi, không lẽ chợ chẳng có đèn đóm gì hay sao?

- Có lẽ nào các thuyền chài lại đánh cá nơi chợ? Còn nếu các thuyền chài buôn bán cá ở chợ thì nhất định ánh đèn của chợ sẽ sáng gấp bội phần ánh đèn chài, do đó nhà thơ không thể thấy đèn chài, hơn nữa, nếu chúng ta dựng lại hình ảnh như TK mô tả trong thơ thì thấy thật vô lý, bởi vì sương đầy trời mà với chỉ vài ngọn đèn chài lấp lánh thì làm sao mà thấy ngọn núi để mà tương đối cho được.

Như thế ta thấy những chú thích của ông Nguyễn Dậu và Chung Bá Kính tuy mới nhưng thiếu tính thuyết phục. Vì vậy tôi nghĩ rằng cách giải thích hai từ “GIANG PHONG” và “NGƯ HOẢ” như ông các Lý Việt Dũng và Mai Quốc Liên và sách Đường thi tam bách thủ là phù hợp hơn.

Còn đối với từ “SẦU MIÊN” thì chúng ta thấy rằng hầu hết những người dịch bài thơ này, Trung Hoa cũng như Việt Nam, đều thống nhất “SẦU MIÊN” là tâm trạng thao thức sầu muộn của tác giả, ngoại trừ Nguyễn Cảnh Phức.


I.  VỀ NGHĨA CỦA TỪ “SẦU MIÊN”
Để tìm hiểu từ “SẦU MIÊN” có nghĩa như thế nào trước hết hãy phân tích cách dùng từ của tác giả trong bài này như thế nào.

Theo tôi ta có thể viết lại cấu trúc bài thơ ấy như sau:
1- Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên, giang phong, ngư hoả /  đối sầu miên
        C       V  C  V     C       V .                                  CHỦ NGỮ                                                VỊ NGỮ

2- Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, dạ bán , chung thanh đáo khách thuyền
                                                       C   V         C       V . . .
                                                             CHỦ NGỮ                    VỊ NGỮ

Nhìn vào câu 1 ta thấy Trương Kế đã sử dụng các cụm từ “ nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên” kỳ thực là những câu hoàn chỉnh (xem ở cuối bài) nhưng tác giả đã tỉnh lược lại thành những ngữ danh từ tương đương với danh từ ghép “giang phong, ngư hoả” với chức năng chủ ngữ, ở vị ngữ ta có động từ “ĐỐI” do đó ta có thể chắc chắn rằng “SẦU MIÊN” là danh từ ghép để cân xứng với các ngữ danh từ và danh từ ghép ở chủ ngữ. Như vậy giờ đây ta hãy xem danh từ ghép “SẦU MIÊN” nghĩa như thế nào?.

Như ta biết Trương Kế sau gần cả đêm thức trắng, về mặt sinh lý thì dĩ nhiên cơ thể muốn ngủ, nhưng do suy nghĩ quá nhiều về một vấn đề gì đó nên không thể ngủ được, để nói lên tâm trạng này Trương Kế diễn tả qua các hình ảnh, âm thanh mà ông cảm nhận lúc đó. Ta thấy trong tám đối tượng (5 ở hai câu trên (Trăng lặn, quạ kêu, sương kín trời, lửa chài, cây bến) và 3 ở hai câu cuối (thành Cô Tô, chùa Hàn San, tiếng chuông) mà Trương Kế nêu ra thì hết bốn thuộc về sự cảm nhận của mắt (thị giác), hai thuộc về cảm nhận của tai (thính giác) và hai thuộc về cảm nhận của tư duy (tri giác). Dựa vào cấu trúc trên ta có thể hình dung ra được một người nằm trong thuyền, cơ thể thì thúc giục cơn buồn ngủ mà tinh thần thì vẫn còn tỉnh táo, vẫn cảm nhận được mọi thứ trước mặt, chung quanh bên ngoài (ĐỐI). như vậy ta có thể nói rằng không chỉ có giang phong, ngư hoả đối sầu miên mà cả nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên và cả tiếng chuông cũng đối sầu miên, bởi vì tất cả những thứ đó đều xảy ra trong cùng một thời điểm, cùng tác động lên tâm hồn tác giả. Như cấu trúc 1 và 2 cho thấy sầu miên là trạng thái của khách thuyền. Chính vì vậy nghĩa của từ “SẦU MIÊN” không những chỉ được khẳng định bởi Câu 1 và câu 2 mà cả câu 3 và 4 nữa.

Như đã phân tích trên, từ “SẦU MIÊN” là một danh từ ghép, trường hợp này là từ ghép chính phụ, trong đó từ “SẦU” bổ nghĩa cho từ “MIÊN” và có nghĩa là “THAO THỨC” hay “TRẰN TRỌC”.

Như vậy ta có thể nói rằng nguyên nhân khiến cho Trương Kế không ngủ được chính là “sầu muộn, lo âu” sở dĩ ta biết được điều đó là dựa vào từ “sầu”, căn cứ vào những cảm quan mà bài thơ mang lại. Nhưng cũng có người cho rằng nếu lấy từ “sầu” trong “sầu miên” để cho ta nghĩa “ buồn” thì còn lại từ “miên” làm sao dịch là “thao thức” thậm chí họ nêu câu hỏi rằng “hay có tự điển nào định nghĩa “MIÊN” có nghĩa là thao thức” (11). Tuy nhiên trong văn chương không phải khi nào chúng ta cũng hiểu một cách cứng nhắc như vậy; bởi vì nếu ta cứ phân tích và hiểu theo cách đó thì những câu như: “ Đau xé lòng anh chết nửa con người” hay “người đi một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn kia bỗng dại khờ” về mặt y học thì không thể chấp nhận được, nhưng trong văn học thì thật tuyệt vời. “Văn dĩ tải đạo”, “Ý tại ngôn ngoại” là vậy. Do đó Trương Kế dùng từ “ sầu” ở đây là cố ý .

II - CÓ PHẢI TRƯƠNG KẾ BUỒN, KHÔNG NGỦ ĐƯỢC VÌ THẤY CẢNH TRĂNG LĂN QUẠ KÊU...........KHÔNG?
Như đã đề cập ở trên Trương Kế không ngủ được là vì buồn rầu, lo âu, nhưng ông buồn rầu, lo âu điều gì? Từ trước đến nay hầu như ai cũng nghĩ là Trương Kế thao thức không ngủ được vì buồn, hay do buồn vì thấy cảnh trăng lặn, quạ kêu …… lửa chài, cây bến, mà không ngủ được như Đường Thi Tam Bách Thủ (ĐTTBT) độc bản của Sổ nghiêu tuyển tập (10) đã giảng:

Nguyên văn:
“Ngã kim tại giá Phong Kiều hạ đình thuyền trụ túc, chỉ kiến nguyệt lượng lạc hạ khứ đích thời hầu, ô nha tại thụ thượng đề khiếu, mãn thiên giáng trước nùng sương, giang biên đích phong thụ hoà ngư thuyền thựơng đích đăng quang, chính đối trước ngã giá cá ưu sầu bất đắc thành miên đích nhân”

Tạm dịch :
“ Đêm nay tôi neo thuyền tại bến Phong kiều, thấy ánh trăng càng lúc càng xa mờ đi, trên cây đàn quạ kêu , đầy trời sương giăng mù mịt, những cây phong bên sông cùng ánh đèn chài lấp lánh trước mặt, làm cho tôi ưu sầu không sao ngủ được “.

Có lẽ vì sách ĐTTBT giảng như thế nên ở Việt Nam, chúng ta cũng nghĩ như thế chăng? Thật ra Trương Kế đã thức suốt đêm rồi, những gì được tả trong thơ thuộc về cuối đêm, nên đâu phải vì thấy khung cảnh như thế sinh buồn không ngủ được. Hơn nữa nếu hiểu như vậy thì đơn thuần bài thơ chỉ là một bài tả cảnh, vậy đâu là thông điệp của bài thơ, chắc chắn ai cũng biết rằng thông điệp mà TK muốn gởi đến người đọc nằm đằng sau những gì ông mô tả trong bài thơ. Thông điệp ấy như thế nào tôi sẽ đề cập tới trong phần sau, nhưng có một điều ta hiểu được là ông rất lo âu, và vì lo âu nên không ngủ được. Ở đây tôi dùng từ “lo âu” bởi vì cái làm cho ông thao thức ấy phải lớn hơn nỗi buồn, cách ông dùng từ trong thơ cho ta nghĩ như vậy. Nhìn vào cách TK xử dụng biện pháp sáng tác( ba câu dồn lại một cho thấy sự dồn nến trong tâm hồn ông) và từ loại trong bài thơ chúng ta thấy với một bài thơ 28 chữ mà ông đã dùng tới 7 động từ, (Lạc, đề, mãn, đối, bán, thanh, đáo) với 3 động từ trong câu mở đầu và 3 động từ trong câu kết thúc, còn lại là danh từ, chỉ duy nhất 1 phó từ (ngoại) và1 tĩnh từ (sầu), mà từ sầu này chỉ bổ nghĩa cho từ miên (ngủ). Do đó tôi nghĩ rằng chắc chắn có một điều gì đó hết sức mạnh mẽ tác động lên tâm hồn Trương Kế làm cho ông không ngủ được. Ở đây ta cũng thấy Trương Kế đã xử dụng từ “sầu” hết sức khéo léo. Mặc dầu từ ghép “sầu miên” có nghĩa là “thao thức”, nhưng nó cũng gợi cho người đọc hiểu rằng lòng ông lo âu sầu muộn biết bao trong đêm ấy tại bến Phong Kiều. Ta có thể hiểu rằng đây chính là cách mà TK vừa bày tỏ lòng mình nhưng lại vừa dấu ý định của mình. Bởi vì vào thời Trương Kế không ít thi nhân đã gặp tai hoạ vì chữ nghĩa. Do đó khi ông viết “sầu miên” thì có thể giải thích được khi bị chất vấn.

Đến đây tôi xin tạm dịch hai câu thơ trên như sau:
“Trăng đã lặn, quạ kêu, trời đầy sương,
Hàng cây phong bên sông cùng ánh lửa chài đang ở trước cơn buồn ngủ”.

Dịch thơ :
"Trăng lặn, quạ kêu, sương kín trời.
Lửa chài, cây bến trước con ngươi”

III - CÓ PHẢI CHUÔNG CHÙA HÀN SAN ĐÁNH VÀO LÚC NỬA ĐÊM ?
Đây là một vấn đề mà đã làm tổn hao rất nhiều công sức và giấy mực của những nhà nghiên cứu, người thì bảo tại vì nhà thơ mơ màng nên cứ ngỡ là nửa đêm, chứ thực ra lúc ấy chẳng phải nửa đêm, như trong quyển Đường thi hợp giải bát bách thủ của Hà Trừng Bình đã viết:

Nguyên văn:

“Thử thời thực bất thị dạ bán. Trương kế sầu miên thời, tâm thần hoảng hốt nghi kỳ thị bán dạ dã”.

Tạm dịch:
“Lúc bấy giờ thực chẳng phải là nửa đêm, Trương Kế đang lúc chập chờn, tinh thần hoảng hốt, ngỡ là nửa đêm vậy”.

Nhưng cũng có người cho rằng: quả thật chuông chùa Hàn San đánh vào lúc nửa đêm như đã được chú trong quyển Đường thi tam bách thủ hân thưởng của Lưu Đại Trừng: (12)

Nguyên văn:
“Âu Dương Tu viết: Thi nhân tham cầu hảo cú nhi lý hữu bất thông giả, diệc ngữ bịnh dã. Đường nhân hữu vân: Cô Tô đài hạ Hàn San tự, dạ bán chung thanh đáo khách thuyền. Thuyết giả diệc vân: Cú tắc giai hỷ, kỳ như tam canh bất thị đả chung thời. Diệp Thiếu Uẩn Thạch Lâm thi thoại: Cái công vị thường chí Ngô trung, kim Ngô trung tự thực bán dạ đả chung”.

Tạm dịch:
“Âu Dương Tu nói: Nhà thơ vì tham cầu đặt câu cho hay nên lý không được thông, đó là một ngữ bịnh. Người đời Đường có nói rằng: Chùa Hàn San dưới đài Cô Tô, nửa đêm tiếng chuông vang tới tận khách trên thuyền. Họ cũng nói rằng: Câu thơ rất đẹp, duy chỉ có canh ba đâu phải lúc đánh chuông. Sách Thạch Lâm thi thoại của Diệp Thiếu Uẩn có nói: Vì ông chưa đến huyện Ngô, hiện nay chùa ở đó nửa đêm có đánh chuông thật”.

Lại có người không quan tâm đến chuyện chuông chùa Hàn San đánh vào lúc nào, và xem việc tìm hiểu có hay không tiếng chuông nửa đêm là chuyện bới lông tìm vết, như trong quyển Đường thi tam bách thủ độc bản của Sổ Nghiêu viết:

Nguyên văn:

“ Hậu nhân dĩ vi dạ bán vô chung thanh tương cấu bệnh, vị miễn xuy mao cầu tì”.

Tạm dịch:
“Người đời sau cho rằng nửa đêm không có tiếng chuông và cho đó là một ngữ bịnh. Xin miễn bới lông tìm vết”.

Trên đây là những ý kiến của những thức giả Trung Hoa. Ở Việt Nam thì hầu như đa số những người nghiên cứu đều biết việc đánh chuông vào lúc nửa đêm là không phù hợp với khung cảnh được tả trong bài thơ, nhưng vì chưa lý giải được tại sao lại dùng từ “dạ bán” trong hoàn cảnh như vậy, nên chấp nhận rằng tiếng chuông chùa Hàn San đánh vào lúc nửa đêm và chẳng có bình luận gì mới. Theo tôi nghĩ, có thể bởi vì trước đây đa số những ngưòi quan tâm đến bài thơ này đều trông đợi sự chú thích của các thức giả Trung Hoa, mà như ta biết hầu như ai cũng chấp nhận hoặc đó là lúc nửa đêm, hoặc đây là một tỳ vết của bài thơ.

Không thỏa mãn với những gì đã nêu trên, ở đây tôi muốn tìm hiểu về nghĩa của từ “DẠ BÁN” trong bài thơ này, xem thử có thực “DẠ BÁN” có nghĩa là “NỬA ĐÊM” không?

Để tìm hiểu vấn đề nầy, tôi xin ghi lại cách Trương Kế diễn tả cảnh trong đêm đó qua các hình ảnh, âm thanh mà ông đã ghi lại trong bài thơ.

Trăng đã lặn, quạ kêu, trời đầy sương,
Hàng cây phong bên sông cùng ánh lửa chài đang ở trước cơn buồn ngủ.
Ngoài thành Cô Tô có chùa Hàn San,
Đêm đã qua hơn một nửa (canh khuya), tiếng chuông vọng tới khách trên thuyền.

Ở đây tôi dịch “DẠ BÁN” là đêm đã qua hơn một nửa là vì:

Trương Kế là người Trung Hoa, chắc chắn ông biết rằng nửa đêm trong tiếng Hán là “BÁN DẠ” cũng như: BÁN NHỰT (nửa ngày), BÁN NGUYỆT (nửa tháng), BÁN NIÊN(nửa năm). Trong một số trường hợp nào đó, có thể đảo ngữ để cho hợp vận hay niêm luật. Tuy nhiên trong văn cảnh này thì việc sử dụng “BÁN DẠ” cũng không sái niêm luật. Vậy tại sao ông không viết “BÁN DẠ” mà lại viết “DẠ BÁN”ngay cả các thức giả Trung Hoa cũng viết “BÁN DẠ” là nửa đêm như:

“Thử thời thực bất thị DẠ BÁN (chữ của TK). Trương Kế sầu miên thời, tâm thần hoảng hốt nghi kỳ thị BÁN DẠ (chữ của người chú) dã” (xem phần dịch ở trước).

Hay trong Đường thi tam bách thủ độc bản của Sổ Nghiêu viết:

Nguyên văn:
“Thử thi đại ý tự lữ khách dạ túc chu trung đích tình cảnh. Thử thi thời gian hoàn toàn ý tại BÁN DẠ(chữ của người chú). Sở dĩ thủ cú tức thuyết NGUYỆT LẠC dữ mạt cú DẠ BÁN (chữ của TK) tương hô ứng, tịnh dĩ Ô ĐỀ dữ CHUNG THANH tương hô ứng .”

Tạm dịch:
“Bài thơ này đại ý tả tình cảnh của người lữ khách qua đêm trong thuyền. Thời gian trong bài thơ này hoàn toàn chỉ về nửa đêm (BÁN DẠ). Sở dĩ câu đầu nói NGUYỆT LẠC và câu cuối DẠ BÁN là để cùng hô, cùng ứng với nhau, rồi thì Ô ĐỀ và CHUNG THANH cũng cùng hô, cùng ứng”.

Hay trong Đường thi tam bách thủ hân thưởng của Lưu Đại Trừng đã viết :

“Cái công vị thường chí Ngô trung, kim Ngô trung tự thực BÁN DẠ đả chung”.(xem phần dịch ở trước)

Như vậy rõ ràng Trương Kế đã dùng từ “DẠ BÁN ” có chủ ý. Nhưng “DẠ BÁN với nghĩa nào và tại sao?

Chúng ta hãy trở lại cấu trúc bài thơ này.

Ngay từ đầu tác giả đã viết:

Cấu trúc ngữ danh từ : NGUYỆT LẠC trăng rụng hay trăng lặn.

                                             C         V

Cấu trúc đủ (câu) NGUYỆT DĨ LẠC trăng đã lặn. 
                                      C           V

Các ngữ danh từ “Ô đề, sương mãn thiên, dạ bán, chung thanh” cũng tương tự như ngữ danh từ “nguyệt lạc”

Do dùng câu làm ngữ danh từ nên Trương Kế đã tỉnh lược tối đa thành phần của câu, vì vậy người đọc cần phải hiểu theo đúng nghĩa mà cấu trúc thật mang lại. Trong trường hợp này thì “NGUYỆT LẠC”, “trăng lặn”, phải được hiểu là: “NGUYỆT DĨ LẠC”, “trăng đã lặn”, chứ không thể nghĩ rằng “trăng đang lặn được”, mà trăng đã lặn thì làm sao mà vào nửa đêm được, hơn nữa lại có tiếng quạ kêu (*), quạ là một loài chim không sinh hoạt ban đêm, điều này cho thấy tiếng kêu của lũ quạ báo cho thấy rằng đêm sắp hết, bình minh đang đến rất gần, và cũng chính vì vậy hơi ấm của mặt trời đã vươn tới nơi dòng sông khiến cho hơi nước xông lên thành sương mù dày đặt, trong khung cảnh như thế, lại có tiếng chuông chùa từ xa vang đến. Trương Kế sau gần một đêm không ngủ, tinh thần mỏi mệt, nhưng nhà thơ biết chắc thời gian đang ở khoảng nào, nhất định là không phải vào lúc nửa đêm – canh ba –. Bởi vì nếu muốn nói như thế, nhà thơ đã viết “BÁN DẠ” rồi. Vì vậy chúng ta hãy xem lại cấu trúc của ngữ danh từ “DẠ BÁN”.

Cấu trúc ngữ danh từ : DẠ BÁN 

                                      C       V

Bao gồm hai cấu trúc đủ (câu):

Một là “DA DĨ BÁN” “đêm đã qua một nửa”

               C       V
Hai là “DA DĨ QUÁ BÁN” “đêm đã qua hơn một nửa”.

             C             V

Nếu nhìn vào toàn bộ cách dùng từ của Trương Kế trong bài thơ thì ta sẽ thấy cấu trúc hai là hoàn toàn hợp lý. Bởi vì nếu chấp nhận cấu trúc một thì tác giả là một nhà vật lý hay toán học chứ không phải là nhà thơ, trong thơ không thể có cách nói đo đạc thời gian một cách chính xác như vậy, đồng thời nhà thơ chẳng có lý do gì mà ngồi canh thời gian như vậy, hơn nữa nếu chỉ thức tới canh ba thì có gì đáng nói, mà nếu như vậy thì ông đã dùng danh từ ghép “bán dạ”. Ở đây tác giả dùng từ “dạ bán” là vì ông rút ngắn câu “ dạ dĩ quá bán” cũng như “ nguyệt lạc” từ câu “nguyệt dĩ lạc”. Như vậy “dạ bán” ở đây có nghĩa là “dạ dĩ quá bán”. Cái hay của nhà thơ là ông đã không nói thời điểm cụ thể, mà ông đã để tiếng chuông rơi vào nửa sau của đêm, một khoảng cách rất rộng, mà ta có thể gọi trong tiếng Việt là “canh khuya”,còn người đọc tự mình cảm nhận thời điểm tiếng chuông vang tới bằng cách hình dung toàn bộ hình ảnh và âm thanh mà ông đã mô tả trong bài thơ.

Chính các nhà nghiên cứu Trung Hoa cũng cảm nhận điều này, như phần trích dẫn ở trên, “nguyệt lạc”hô ứng với “dạ bán”, “ô đề” thì hô ứng với “chung thanh”, như thế ta có trăng đã lặn hô ứng với đêm đã khuya, quạ kêu hô ứng chuông vang.Thêm vào đó, cách nhà thơ dùng từ “dạ bán”, cho thấy nhà thơ hoàn toàn nhận thức được ông đã chờ đợi giấc ngủ suốt đêm qua, hình ảnh này cho ta thấy việc TK không ngủ được là do có một lo âu nào đó rất mạnh mẽ trong lòng chứ không đơn giản là vì buồn.

Ta có thể viết lại bài thơ ấy dưới hình thức văn xuôi như sau :

“Ngã kim tại Phong Kiều bạc, chỉnh dạ tâm tại thiên sầu vạn trứ bất đắc thành miên

Hốt kiến nguyệt dĩ lạc = Nguyệt lạc,

Thụ thượng ô nha đề khiếu = Ô đề,

không trung sương giáng mãn thiên = Sương mãn thiên.

giang biên chi phong thụ = Giang phong,

dữ ngư thuyền chi hỏa quang = Ngư hỏa,

chính đối trước ngã,= đối (ngã = sầu miên).

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự (tăng nhân đả chung), = Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

thử thời dạ dĩ quá bán, = dạ bán

chung thanh đáo ngã thuyền.= Chung thanh đáo khách thuyền

Có một một giai thoại để giải thích cho việc đánh chuông vào lúc “DẠ BÁN” này.

Tương truyền rằng Trương Kế một đêm neo thuyền ở bến Phong Kiều, rung cảm trước cảnh đẹp của thiên nhiên ông đã cảm tác được hai câu thơ:

“ Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên,
Giang phong, ngư hoả đối sầu miên”,

Thế rồi ông không sao kết thúc được bài thơ, nên cứ thao thức mãi. Cùng trong đêm ấy, sư cụ chùa Hàn San cũng thấy cảnh trăng đầu tháng mông lung, huyền ảo nên cảm tác được hai câu thơ:

Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tợ ngân câu, bán tợ cung
(Mồng ba, mồng bốn nguyệt mông lung
Nửa tợ móc câu, nửa tợ cung)

Rồi cũng như Trương Kế, sư cụ cũng không sao kết thúc được bài thơ của mình, cứ thao thức mãi. Thời gian trôi đi, cho đến lúc chú tiểu trong chùa dậy đánh chuông, (đây là nhiệm vụ của người tập sự) đi ngang phòng thầy, thấy thầy còn thức, hỏi ra mới biết bèn mạo muội xin thêm vào hai câu nữa để hoàn chỉnh bài thơ. Sư cụ đồng ý, chú tiểu liền đọc:

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán trầm thuỷ để bán phù không”
(Một mảnh trăng chia thành lưỡng đoạn
Nửa chìm đáy nước, nửa trên không)

Như một nửa còn lại của một viên ngọc, hai câu thơ của chú tiểu ý tứ liền lạc với hai câu của sư cụ, tạo thành một bài thơ hoàn hảo. Sư cụ như trút được gánh nặng, còn chú tiểu cũng vô cùng sung sướng, vì thực ra đêm qua chú cũng lâm vào tình trạng như thầy mình. Hai thầy trò như đã hoàn thành một việc lớn, với tâm hoan hỉ, phấn chấn, chú tiểu đi đánh chuông. Tiếng chuông mạnh mẽ, ngân vang, như cơn gió mở toang tâm hồn của Trương Kế còn đang trằn trọc dưới bến Phong Kiều, tứ thơ của ông tức thì tuôn trào thành hai câu:

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Thế là Trương Kế cũng hoàn thành bài thơ của mình.

Trong Phật Giáo không thấy có sách nào nói về việc đánh chuông vào lúc nửa đêm hay bất thường, ngoại trừ khi nhà chùa có sự cố như: Vị Trú Trì chết, hoả hoạn, hay bị nạn, trong trường hợp như thế, tiếng chuông là một thông tin có giá trị như một thông báo, kêu gọi sự giúp đỡ. Đánh chuông vào canh năm là một truyền thống từ ngàn xưa của Phật giáo Trung Hoa cũng như Việt Nam, điều này ai cũng rõ. Nhưng vì đây là một giai thoại dùng để giải thích cho việc Trương Kế dùng từ “DẠ BÁN” với nghĩa “NỬA ĐÊM”, chính vì vậy đôi khi người viết phải sửa lại câu chuyện cho thích hợp với mục đích của mình, như có người đã viết:(13)

“ Chú tiểu hầu bên thấy vậy mới hỏi Sư cụ sao đêm nay cứ trằn trọc mãi không ngủ. . . .

Sư cụ nghe xong khen hay và bảo chú tiểu lên chánh điện đánh chuông tạ ơn Phật”.

Đây là một giai thoại nhằm phục vụ cho việc giải thích hai từ “dạ bán” trong bài thơ của Trương Kế, do đó những tình tiết của câu chuyện cũng phải làm sao cho hợp lý, vì vậy trong câu chuyện nói trên có nhiều điều hơi gượng ép. Một là sao mà nhà chùa hành hạ chú tiểu đến vậy, (đứng hầu thầy đến nửa đêm), may mà chú thêm vào hai câu, chứ nếu không e hầu cả đêm. Hai là kiểu ăn mừng của thầy trò chùa Hàn San quá ư bất thường. Ba là chuông ở chánh điện là chuông gia trì, âm thanh chỉ đủ vang trong phạm vi chánh điện mà thôi, làm sao vang tới khách đang ở trên thuyền ngoài bến Phong Kiều cho nỗi, vì chùa Hàn San ở ngoài thành Cô Tô, cách xa chỗ neo thuyền của Trương Kế . Như vậy tiếng chuông mà Trương Kế nghe phải là tiếng Đại hồng Chung, mà Đại Hồng Chung chỉ đánh vào lúc canh năm mà thôi. Cho dù đây là một giai thoại, nhưng nó cũng cho thấy rằng người xưa đã nghĩ “DẠ BÁN” không phải là “BÁN DẠ”.

Với tất cả những gì đã nêu trên, tôi cho rằng hai từ “DẠ BÁN” trong trường hợp này có nghĩa là “ĐÊMĐÃ QUÁ NỬA”, “ĐÊM ĐÃ KHUYA” hay “CANH KHUYA”. Rõ ràng Trương Kế đã xử dụng từ “DẠ BÁN” có chủ ý, chính xác và rất đắt.

- THÔNG ĐIỆP MÀ TK MUỐN GỞI ĐẾN NGƯỜI ĐỌC LÀ GÌ?
Như đã trình bày trên, rỏ ràng TK viết bài thơ này với những tính toán nhất định, vì sao tôi cho như vậy. Bởi vì, như ta biết TK là một người tài, chỉ với bài thơ PKDB này thôi mà ông đã nổi tiếng như thế, thì đủ biết chắc ông phải có nhiều bài thơ hay khác nữa. Nhưng ngày nay ta chỉ biết TK qua bài PKDB này thôi. Tự việc này đã nói lên rằng TK viết bài này là có dụng ý, và dĩ nhiên là ông hết sức hài lòng. Sự việc ngày nay TK chỉ còn một bài thơ PKDB chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà có. Ta có thể hình dung ra ngày ấy (thời TK) khi các nhà tập chú thơ muốn ghi lại (mỗi người mỗi bài) có thể họ đã hỏi TK. “Ông thích bài nào nhất?” và TK đáp “Phong Kiều Dạ Bạc” chính vì vậy mà trải qua hàng ngàn năm, với những tranh cãi về chữ nghĩa như thế mà bài thơ vẫn tồn tại, trong khi đó bao nhiêu thơ văn của ông chẳng còn gì.

Khi đã nghĩ như vậy thì câu hỏi đặt ra là “Vậy TK viết bài thơ PKDB với mục đích gì?”. để trả lời cho câu hỏi này chúng ta hãy xem lại phương pháp sáng tác bài thơ (như đã trình bày trên). Tôi cho rằng TK là người rất thông thạo về vùng đất này và đã nhiều lần ngủ thuyền ở bến Phong Kiều. Tuy nhiên căn cứ vào những gì đã ghi lại trong bài thơ cho ta hiểu, có thể TK viết bài PKDB tại bến Phong Kiều, mà cũng có thể TK viết bài thơ này tại một nơi khác. Nhưng dù ông sáng tác bài thơ này ở đâu chăng nữa, thì việc sáng tác bài thơ này xuất phát từ những tính toán chứ không phải từ những cảm xúc nhất thời. Theo tôi lý do mà ông sử dụng những hình ảnh của bến Phong Kiều là tại hai chữ “Cô Tô” hay nói khác hơn là ý nghĩa mà điển tích “Cô Tô” mang lại (14). Đây chính là từ đinh của bài thơ, chính vì vậy từ “Cô Tô” này nằm ở trung tâm của bài thơ. Bởi vì thành Cô Tô và chùa Hàn San cách bến Phong Kiều gần chục cây số thì làm sao nằm ở bến Phong Kiều mà nghe tiếng chuông chùa Hàn San cho được, ngàn năm trước mười cây số là một khoảng cách rất lớn, và chắc chắn chủ yếu là rừng, rõ ràng TK đã sắp đặt các yếu tố này một cách có chủ ý, mà như tôi đã nói là tại vì TK muốn sử dụng địa danh “Cô Tô”để gởi gắm tâm tư của mình chính như đã nói ở trên. Thêm vào đó lại có chùa Hàn San, nơi đêm đêm tiếng chuông vang vọng nhắc nhở con người rằng cuộc đời vô thường lắm, thông điệp vô thường ấy đã vang tới tận bến Phong Kiều nơi có một con người đang chơi vơi giữa thực hư của nhiên giới, hay có thể nói giữa nhân giới. Con người ấy đang lênh đênh trên con thuyền mà ở đây ông đã khéo dùng “Khách thuyền” khách cũng chính là thuyền, thuyền thì cô đơn trên bến Phong Kiều mịt mờ sương phủ, và khách lênh đênh giữa dòng lịch sử với ngổn ngang những dấu hiệu suy tàn.

Như ta biết TK là một mệnh quan của triều đình, do đó chắc chắn ông đã nhận ra rằng thời kỳ suy tàn của một triều đại đang trên con đường sụp đổ, chính trong thời kỳ này loạn An Lộc Sơn, đã làm cho vua quan phải bỏ cả Trường An mà chạy. Với tư cách là kẻ sĩ, chứng nhân của thời đại, TK muốn nói lên điều đó, tuy nhiên lịch sử đã cho thấy rằng chữ nghĩa có thể là tai họa, nhưng không thể không nói, chính vì vậy ông đã mượn bến Phong Kiều gần thành Cô Tô để gởi gắm thông điệp của mình./.

............................../////////////.........................................

1 - Kiến thức ngày nay số 388 ra ngày 20.5.2001 trang 71.
2 - Tự học Hán văn Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 1995 trang 294.
3 - Bình giảng thơ Đường do Nxb Giáo Dục in năm 2003 trang 84 .
4 - Kiến thức ngày nay số 537 ngày 10.7.2005 trang 43.
5- Tự học Hán văn - Nguyễn Khuê 294, 295. Nxb TPHCM 1995
6 - Báo Văn nghệ- Hội nhà văn số 48 ngày 28-11-1992.
7 - Hội đồ Thiên Gia thi - Chung Bá Kính do Nhật Tân thư trang ấn hành.
8 - Báo Văn Nghệ - Hội nhà văn số 10 ngày 6-3-1993
9 - Báo Văn Nghệ TPHCM số 77 ra ngày 18 – 24 – 11-1993
10- Đường Thi Tam Bách Thủ độc bản của Sổ Nghiêu tuyển tập, do Văn Nguyên thư cục ấn hành 1965.
11 -Kiến thức ngày nay số 537 ngày 10.7.2005
12 -Đường thi tam bách thủ hân thưởng của Lưu Đại Trừng thuật chú do Văn hóa đồ thư công ty ấn hành.
13 - Văn - số 26 – 1993 do Ban văn hoá TW Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Xb trang 62.
(*)Có thể những người này lấy địa danh ngày nay mà xét. Bởi vì từ sau khi bài thơ “Phong kiều dạ bạc” của Trương Kế ra đời, người ta đã lấy các từ trong bài thơ đặt tên núi. Các tên núi này cũng đã đi vào thi ca như bài “Quá phong kiều tự” của nhà thơ Tôn Địch đời Tống mà trong Đường thi tam bách thủ giải thích như sau: Nguyên văn:
“Kim nhân hoặc dĩ vi “ô đề”nãi Hàn Sơn tự dĩ tây hửu ”ô đề sơn”phi chỉ “ô nha đề khiếu “sầu miên” nãi Hàn San tự dĩ nam đích ‘sầu miên sơn” phi chỉ “ưu sầu nan miên” thù bất tri “ô đề sơn” dử “sầu miên sơn” khước thị nhơn Trương Kế thi đắc danh” Tôn Địch đích “Ô đề nguyệt lạc kiều biên tự”cú trung đích “ô đề” tức thị minh hiển chỉ “ Ô đề sơn”.
Tạm dịch:
“Ngày nay một số người cho rằng”Ô Đề”là “núi Ô Đề”phía tây chùa Hàn San chứ chẳng phải là “tiếng Quạ Kêu”, “Sầu Miên”là “núi Sầu Miên” phía nam chùa Hàn San chứ chẳng phải “lo âu khó ngủ”. (Họ) đâu biết rằng “núi Ô Đề” và “núi sầu miên” là do vì bài thơ của Trương Kế mà có tên.. Từ “ô đề”trong câu thơ “Ô Đề nguyệt lạc kiều biên tự” rõ ràng chỉ”núi Ô Đề”.
(*) Loài quạ thường sinh sống từng bầy, ban ngày đi kiếm ăn thì chia làm nhiều đàn nhỏ, chiều về chung sống với nhau. Đặc biệt chúng thường kêu inh ỏi vào buổi sáng sớm, điều này đã làm cho các nhà điểu loại học hết sức quan tâm, sau nhiều năm nghiên cứu họ biết rằng loài quạ kêu inh ỏi vào buổi sáng chính là chúng nói chuyện với nhau, cụ thể là chúng thông tin cho nhau nơi nào có nhiều thức ăn sau đó chúng mới bay đi kiếm ăn. Thông tin này được phát trên VTV2 trong chương trình” Thế giới loài vật” đề tài “ Đời sống của loài quạ” ngày giờ tôi không còn nhớ.
14 - Từ sau khi vua nước Ngô là Phù Sai vì Tây Thi mà mất nước, thì thành Cô Tô (và tên Cô Tô) nơi Phù Sai xây cho Tây Thi ở đã trở thành điển tích biểu tượng cho sự suy vong của một chế độ, dẫn đến mất nước. Theo tôi đây chính là lý do mà TK đã chọn bến Phong Kiều để làm chất liệu cho bài thơ của mình.

(Haitaynamkg) Phong Kiều dạ bạc , Ngàn Năm Âm Vang
Có thể nói Phong Kiều dạ bạc [楓橋夜泊] là một thi phẩm được ngàn đời xưng tụng là tuyệt tác. Thanh thế của Phong Kiều dạ bạc không chỉ dừng lại ở quê hương sản sinh ra nó mà đây còn là bài thơ Đường được các nước đồng văn (Việt Nam, Nhật Bản) vô cùng mến mộ. Ắt hẳn cũng vì lẽ ấy mà xung quanh bài thơ vẫn còn nhiều ý kiến chưa đồng nhất về cách hiểu một số từ. Đây cũng là vấn đề của những cuộc tranh luận học thuật sôi nổi. Có thể tóm gọn lại như sau: ngoài cách hiểu truyền thống([1]), một số các ý kiến đề xuất nên hiểu:
- Ô Đề là tên thôn
- Giang Phong, Ngư Hỏa đều là địa danh
- Sầu Miên là tên núi...

Cụ thể là cách hiểu của các tác giả Thái Anh, Trần Yên Thảo, Trần Đắc Thọ…Tuy nhiên, những ý kiến này chưa có những chứng cứ thật đáng tin cậy. Qua những bài viết phản hồi của những nhà nghiên cứu lão thành như Nguyễn Khắc Phi, Kiều Thu Hoạch…nhìn chung cách hiểu truyền thống vẫn tỏ ra ưu thế hơn([2]).

Nguyên tác chữ Hán
月落烏啼霜滿天
江楓魚火對愁眠
姑蘇城外寒山寺
夜半鐘聲到客船

Phiên âm
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hoả đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khác thuyền.

Dịch nghĩa
Trăng xế, quạ kêu, sương đầy trời
(Khách) nằm ngủ trước cảnh buồn của đèn chài và lùm cây phong bên sông.
Chùa Hàn Sơn ở ngoài thành Cô Tô
Nửa đêm tiếng chuông văng vẵng vọng đến thuyền khách

Dịch thơ
Trăng tà chiếc quạ kêu sương,
Lửa chày cây bến sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nữa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.
(K.D dịch, trong Thơ Đường, tập 2, NXB Văn học, Hà Nội, 1987)

Phong Kiều dạ bạc, là thi phẩm có sức thu hút mạnh mẽ đối với độc giả của nhiều thế hệ. Có lẽ, sức thu của thi phẩm này ở cách tạo dựng ngôn từ nghệ thuật đặc sắc.

Mở đầu bài thơ với ba ngữ đoạn đối nhau:
Nguyệt lạc / Ô đề / Sương mãn thiên
C-V / C-V / C-V

Đã cho thấy sự vận động của cảnh vật và cả sự vận động của thời gian. Vẫn là những hình ảnh đặc trưng của Đường thi nguyệt, sương tuy nhiên ở đây ta thấy sự liên hội những hình ảnh này trong cấu trúc đối ngữ đoạn đã kiến tạo nên sự chuyển cảnh từ đó gợi cho người đọc những cảm nhận về không gian và cả thời gian: Trăng lặn, bất chợt có tiếng quạ kêu, ngoài trời sương giăng đầy. Qua làn sương phủ ấy, thi nhân cảm nhận được phía ngoài con thuyền là khoảng không bao la, vắng lặng. Tiếng quạ kêu càng khắc sâu hơn sự vắng lặng và tĩnh mịch ấy, thủ pháp quen thuộc của Đường thi đã được sử dụng, dĩ động tả tĩnh. Ở đây thi nhân không trực tiếp đối diện với cảnh mà chủ yếu là cảm nhận những biến thái cảnh vật từ trong con thuyền hải hồ của mình. Thế nên ý sương mãn thiên cứ tưởng không phù hợp với thực tế lại quá ra rất phù hợp. Sương không thể phủ đầy trời được. Sương là do "Hơi nước ngưng tụ lại thành hạt trắng rất nhỏ bay lơ lửng trong lớp không khí gần mặt đất"([3]) . Như vậy cho thấy điểm nhìn của tác giả ở đây phải là ở trong lòng thuyền. Vì trong lòng thuyền tầm mắt bị hẹp lại nên tác giả nhầm tưởng là sương phủ đầy trời.

Ở câu thơ này một số học giả cho rằng có một ý không hợp với thực tế nữa là ô đề. Vì họ cho rằng ban đêm làm gì có tiếng quạ kêu. Đây cũng chính là căn cứ của một số người vin vào để khẳng định ô đề là địa danh. Quả thật trong thực tế, quạ là loài chim ít kêu về đêm tuy nhiên vẫn có những trường hợp bất thường. Vì một lí do nào đó mà lũ quạ bất giác kêu trong đêm. Nếu không phải thế thì Tào Tháo đã không viết trong

Đoản ca hành [短歌行]:
月明星稀
烏鵲南飛
繞樹三颯
無枝可衣

Nguyệt minh tinh hi,
Ô thước nam phi.
Nhiễu thụ tam táp,
Vô chi khả y.
(Trăng sáng sao thưa - Quạ bay về nam - Lượn ba vòng cây – không cành nào có thể nương tựa)

Và thi tiên Lí Bạch đã không có một bài thơ với tiêu đề Ô dạ đề([4]) (Quạ kêu trong đêm)...Trong thơ cổ điển của Việt Nam cũng có thấy xuất hiện hình ảnh này ví dụ như trong thơ của Nguyễn Xuân Ôn ([5]), bài Hộ giá hạnh Thúy Sơn cảm tác có câu:
山樹月明看繞雀
江楓霜滿聽啼烏

Sơn thụ nguyệt minh khan nhiễu tước
Giang phong sương mãn thính đề ô

(Trăng sáng cây đầu non, thấy đàn chim sẻ bay quanh - Cây phong bên sông sương nhuốm đầy, nghe bầy quạ kêu)

Hay trong thơ của Lê Quý Đôn:
墙角烏啼深夜月

Tường giác ô đề thâm dạ nguyệt ([6])
(quạ kêu ở góc tường lúc trăng sáng canh khuya)

Vậy là đã khá rõ, cái lí do khiến cho bầy quạ giật mình kêu giữa trời đêm chẳng phải được thi nhân tạo dựng bằng thủ pháp dĩ động tả tĩnh theo kiểu Nguyệt xuất kinh sơn điểu - Thời minh tại giản trung ([7]) đó sao?
Câu khai vốn đã hay, câu thừa càng hay hơn một bậc:
Giang phong ngư hoả đối sầu miên

Trong cuốn Tự học Hán văn, Nguyễn Khuê hiểu câu thơ trên như sau: "Hàng cây phong bên bờ sông, ánh đèn thuyền chài đối cùng khách đang thao thức sầu" (trong khoang thuyền đậu tại bến Phong kiều). Nguyễn Quảng Tuân, trong Kiến thức ngày nay (số 388 ra ngày 20/5/2001) lại hiểu: "Khách (tác giả) nằm trong thuyền ngó ra ngoài thấy hàng cây phong ở trên bờ sông và những ánh đèn thuyền chài trước bến trong lòng sinh ra buồn bã nên cứ mơ màng không ngủ được". Sách giáo khoa Ngữ văn 7 thì dịch thành: (Khách) nằm ngủ trước cảnh buồn của đèn chài và lùm cây phong bên sông. Nguyễn Thị Bích Hải, trong cuốn Bình giảng thơ Đường, hiểu theo hướng khác: "Cây phong bên bờ sông, ngọn lửa đèn chài, (khách) ngủ với nỗi buồn". Nguyễn Cảnh Phúc, trong một bài viết trên tạp chí Hán Nôm ([8]) đã đề xuất cách hiểu câu thơ trên như sau: "Rặng cây phong bên bờ sông và ngọn lửa trên thuyền chài đang đối diện với nhau mà ngủ một cách buồn rầu".

Sở dĩ có nhiều cách hiểu cho một câu thơ như vậy, thiết tưởng không có gì là lạ. Bởi Vì yêu cầu kiệm lời nên những thủ pháp như đảo trang, tỉnh lược được sử dụng một cách rất phổ biến trong luật thi. Hệ quả là một số câu thơ sẽ có nhiều cách hiểu. Và như vậy việc còn lại của độc giả là trong số nhiều cách hiểu ấy chọn riêng cho mình một cách hiểu, miễn sao phù hợp với logic bài thơ là được([9]). Riêng chúng tôi vẫn tán thành hơn cách hiểu của Nguyễn Khuê và Nguyễn Quảng Tuân. Bởi lẽ, nếu hiểu như Nguyễn Thị Bích Hải hay Nguyễn Cảnh Phức thì làm sao lí giải được một người đã ngủ rồi làm sao có thể biết được trăng lặn, quạ kêu, sương giăng đầy trời và thậm chí mang cả " nỗi sầu" vào giấc ngủ (Mặc dầu miên [眠] nghĩa là ngủ). Đối sầu miên [對愁眠]có thể nói là một cụm từ "đắc" nhưng rõ ràng không hề đơn giản để hiểu và dịch. Theo nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch thì ở Trung Quốc với cụm từ trên, người ta đã chú như sau: "Bản Đường thi tam bách thủ, Tân Cương, 1997, chú rằng, "Sầu miên: chỉ hoài trước lữ sầu thảng tại thuyền thượng đích du nhân" ([10]) (Sầu miên: chỉ người du khách mang nỗi sầu lữ thứ nằm thao thức trên thuyền). Bản Đường thi tam bách thủ, Thượng Hải cổ tịch, 1999, thì chú "Sầu miên: dạ sầu bất miên chi nhân" ([11]) (Sầu miên: chỉ người đêm buồn sầu không ngủ được)" ([12]). Vậy đến đây là đã rõ, trộm nghĩ cũng không cần tranh luận thêm làm gì.

Hai câu thơ đầu vốn đã rất đặc sắc nhưng linh hồn của bài thơ lại nằm ở hai câu cuối
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Câu chuyển, "Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự", không là một câu thơ đột xuất, nó giản đơn chỉ là một câu trần thuật thuần túy "Chùa Hàn Sơn ở ngoài thành Cô Tô". Nhưng chính câu trần thuật ấy lại có tác dụng nối kết hình ảnh người lữ khách đang trực diện với nỗi sầu quạnh vắng trên con thuyền cô đơn ở câu thơ trên và tiếng chuông chùa vọng lại trong đêm khuya ở câu thơ cuối.

Bản dịch của K.D vốn được nhiều người yêu thích. Thế nhưng rất tiếc bản dịch ấy lại thất suất ở ngay chính câu thơ đặc sắc nhất của thi phẩm: Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn. Vì nếu như hiểu theo bản dịch thơ của K.D thì chủ thể trữ tình chính là người chủ động nghe tiếng chuông chùa, trong khi nghĩa gốc của nguyên tác thì ngược lại: Nửa đêm tiếng chuông văng vẵng vọng đến thuyền khách.

Để làm rõ vấn đề này ta thử nối kết hai câu thơ lại trong cái nhìn liền mạch:
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự / Dạ bán / chung thanh / đáo khách thuyền
Trạng ngữ chỉ nơi chốn / Trạng ngữ chỉ thời gian/ chủ ngữ / Vị ngữ

Như vậy từ cấu trúc trên ta thấy, lúc này tiếng chuông chùa phải là chủ thể "chủ động" tìm đến thuyền khách chứ không thể hiểu ngược lại: "Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn". Tiếng chuông ngân nga trong đêm khuya từ chùa Hàn San như một thứ nước cam lộ diệu kì xua hết những mê kiến trong lòng người lữ khách đang dấn thân trên bước hải hồ bôn ba.

Con người trung đại tin ở sự thống nhất trong thế giới. Thiên nhiên là bạn tri âm tri kỷ của con người. Người phương Đông xưa quan niệm: thiên nhiên có mối giao hòa giao cảm với con người bởi con người là một "tiểu vũ trụ" có quan hệ tương thông tương cảm với "đại vũ trụ" - thiên nhiên ngoại giới. Do quan niệm con người và thiên nhiên có mối giao cảm đặc biệt như thế nên thiên nhiên cũng là thiên nhiên hữu linh, hữu tâm, hữu tình. Khi con người bất đắc chí thì con người tìm về với thiên nhiên tạo vật, vũ trụ như tìm về với nguồn cội. Con người cô đơn, cảm thấy mình là trung tâm , là khách để thu nhận mọi âm ba của đất trời non nước. Nhân vật trữ tình trong hai câu thơ này cũng không nằm ngoài qui luật trên. Nếu ở hai câu thơ khai thừa, nghệ thuật "dĩ động tả tĩnh" đã được vận dụng thành công thì ở câu thơ chuyển hợp, Trương kế đã sử dụng tiếp một thủ pháp nghệ thuật đặc sắc khác của Đường thi, thủ pháp "tá thanh truyền ảnh". Tiếng chuông ngân nga vọng đến từ chùa Hàn San gợi ra hình ảnh của một đêm thanh vắng. Tiếng chuông này không đơn thuần là một thứ âm thanh của thế giới khách quan mà nó đã được "phổ" vào tâm tình của con người. Và nó đã tìm đến con người để giãi bày, để chia sẻ nỗi cô đơn quạnh vắng trong thẳm sâu tâm tư của khách hải hồ. Chữ "đáo" vì thế hẳn nhiên đã trở thành nhãn tự của cả bài thơ. Chính câu thơ cuối này đã hoàn chỉnh thế giới nghệ thuật của Phong Kiều dạ bạc, đã phong kín niềm ngưỡng mộ của khách văn chương trong mười mấy thế kỉ qua đối với áng Đường thi tuyệt bút "vĩnh thùy bất hủ" – còn mãi không mờ.

Phụ lục
Truyện kể rằng: Trương Kế, sau khi viết được hay câu thơ đầu thì mất hứmg không thể viết được nữa vì hai câu đầu được viết rất tốt rồi. Hai câu sau phải hay hơn hoặc cân xứng với hai câu đầu mới được. Ông đang băn khoăn thao thức. Lúc ấy thì ông bỗng nghe tiếng chuông chùa Hàn San vang vọng trong đêm khuya. Bởi vì cùng lúc ấy, hòa thượng trụ trì chùa Hàn San cũng đang làm được hai câu thơ hay nhưng cũng như Trương Kế ông không triển khai tiếp được. Tương truyền hai câu thơ ấy là:
Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tự ngân câu bán tự cung
(Đêm nay đầu tháng trăng mờ - Nửa như móc bạc nữa ngờ vành cung)

Vị sư già mãi thao thức vì bài thơ chưa hoàn chỉnh đúng lúc ấy thì có một chú tiểu lò dò đi đến trình cho hòa thượng xem hai câu thơ mới làm. Xem xong sự cụ hoan hỉ vì ghép hai câu của ông và hai câu chú tiểu sẽ thành một bài thơ hoàn chỉnh. Nội dung của hai câu sau là:

Thùy bả kim bôi phân lưỡng đoạn
Bán trầm thủy để, bán phù không
(Hồ xanh ai xẻ đôi vừng – nửa chìm đáy nước, nửa lồng chân mây ([13]))

Sư cụ sai chú tiểu ra thỉnh chuông còn mình đi thắp hương để tạ ơn Phật Tổ. Và cũng chính tiếng chuông ấy đã gợi hứng để Trương Kế hoàn thành hai câu thơ cuối./.

Chú thích
([1]) Hiểu như trong phần dịch nghĩa mà chúng tôi đã trình bày phía trên
([2]) Thái Anh - Từ một áng thơ Đường đến với một tập thơ đương đại - Văn nghệ số 36 (67)-1998; Nguyễn Khắc Phi - Bàn thêm về cách hiểu và dịch bài thơ Phong Kiều dạ bạc - Văn nghệ trẻ số 1 (68) – 1998; Nguyễn Cảnh Phức - Một cách tiếp cận bài thơ Phong Kiều dạ bạc - Tạp chí Hán Nôm số 5 (2004); Nguyễn Tất Phan - Nói thêm về bài thơ Phong Kiều dạ bạc - Tuần báo Văn nghệ số 29 (2004)….
([3]) Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 1992
([4]) Nguyên văn chữ Hán
烏夜啼
黃 雲 城 邊 烏 欲 棲
歸 飛 啞 啞 枝 上 啼 
機 中 織 錦 秦 川 女 
碧 紗 如 湮 隔 窗 語
停 梭 悵 然 憶 遠 人
獨 宿 孤 房 淚 如 雨
([5]) Nguyễn Xuân Ôn (1825 – 1889) người Lương Điền – Đông Thành – (Nay là xã DiễnThái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) làm quan dưới triều Tự Đức.
([6]) Bài Yết Lê Thiếu Phó công từ đường (Tồn Am Bùi Huy Bích - Hoàng Việt thi tuyển – Trung tâm nghiên cứu quốc học – NXB Văn học - 2007)
([7]) Điểu minh giản – Vương Duy
([8]) Một cách tiếp cận bài Phong Kiều dạ bạc - Tạp chí Hán Nôm số tháng 5/2004
([9]) Tuy nhiên, để đảm bảo tính chính xác thiết tưởng cũng rất cần phải tra cứu một cách cẩn thận.
([10]) Nguyên văn chữ Hán: 愁 眠 : 指 怀 著 旅 愁 躺 在 船 上 的 游 人 
([11]) Nguyên văn chữ Hán: 愁 眠 : 夜 愁 不 眠 之 人
([12]) Lại bàn về Phong Kiều dạ bạc – Bài thơ gây xôn xao dư luận ngàn năm - Tạp chí Hán Nôm, số 4, 2005
([13]) Tản Đà dịch thơ

Theo Trầm Thanh Tuấn

(Haitaynamkg) Phong Kiều dạ bạc 楓橋夜泊 - Nửa đêm đậu bến Phong Kiều

Hàn San tự 

Phong Kiều dạ bạc 

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, 
Giang phong ngư hoả đối sầu miên. 
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, 
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Dịch nghĩa 
Trăng lặn, quạ kêu, sương phủ đầy trời. 
Hàng phong bên sông, ngọn đèn thuyền chài ở trước người đang ngủ buồn. 
Ngoài thành Cô Tô là chùa Hàn San, 
Tiếng chuông lúc nửa đêm vẳng đến thuyền khách.
(Năm 756)

Bản dịch của Hạt Cát
Quạ kêu, trăng lặn, trời sương, 
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ. 
Thuyền ai đậu bến Cô Tô, 
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Theo Trần Trọng San (Thơ Đường, NXB Bắc Đẩu, 1957) thì bản dịch này của Tản Đà, chỉ khác đôi chút ở hai câu đầu: 
Trăng tà, tiếng quạ kêu sương, 
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ. 
Thuyền ai đậu bến Cô Tô, 
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.Sách Việt Nam văn chương trích diễm (Lý Văn Hùng, Sài Gòn, 1961) dẫn bản dịch này ghi của Tản Đà, trong đó khác một chữ ở câu đầu: 

Trăng tà, chiếc quạ kêu sương, 
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ. 
Thuyền ai đậu bến Cô Tô, 
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.Tuy nhiên, Nguyễn Quảng Tuân đã đính chính bản dịch này của Nguyễn Hàm Ninh trên Tạp chí Văn học (số 191, 3-2002) với nội dung như trên. 

Ngoài ra, bản dịch của Trần Trọng Kim cũng có câu cuối giống bản dịch này. 

Nguồn: 
1. Tạp chí Văn học, số 191, tháng 3-2002, trang 36 
2. Trần Trọng San, Thơ Đường, NXB Bắc Đẩu, in lần thứ ba, 1972, tập 1, trang 115 
3. Lý Văn Hùng, Việt Nam văn chương trích diễm, Sài Gòn, 1961


Phong kiều dạ bạc và chùa Hàn San
Tác giả: NDD @Mai Hoa Trang 
Trong bối cảnh thành Trường An chìm trong cơn tao loạn thì nhà thơ Trương Kế, một đại quan tiến sĩ Ngự Sử đài, chẳng kịp theo đoàn hộ giá vương tôn lánh nạn mà đành lưu lạc xuống tận miền Giang Nam trên chiếc thuyền phiêu bạt. Một đêm ghé bến Phong Kiều, động mối u hoài chất chứa, gợi cảm cùng ngoại cảnh thê lương, bức xúc viết nên bài thơ tuyệt diệu, vượt qua cả không gian và thời gian, lưu truyền hậu thế: 

Phong Kiều Dạ Bạc 

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên 
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên 
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự 
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền 
(Trương Kế) 

Dịch nghĩa: 
Trăng lặn, quạ kêu, sương phủ đầy trời 
Trong giấc mơ buồn có cây phong ở bến sông và ngọn lửa thuyền chài 
Chùa Hàn San ở ngoại thành Cô Tô 
Nửa đêm khách đi thuyền tới nghe thấy tiếng chuông chùa ngân vang 

Dịch thơ: 
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi 
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co 
Con thuyền đậu bến Cô Tô 
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San 
(Bản dịch: Tản Đà) 

Cuốn "Thơ Đường" của Trần Trọng San có ghi lại có một truyền thuyết khá lãng mạn về bài này. Một đêm trăng, sư cụ trụ trì chùa Hàn San, cảm hứng nghĩ ra hai câu thơ: 

Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung 
Bán tự ngân câu bán tự cung 

Thao thức mãi trong phòng mà sư cụ không nghĩ ra hai câu tiếp. Tự nhiên có tiếng gõ cửa. Thì ra là chú tiểu cũng trằn trọc vì 2 câu thơ mình mới nghĩ ra: 

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn 
Bán trầm thủy để bán phù không 

nhưng cũng không làm tiếp được và xin thầy giúp. Nghe xong, sư cụ mừng quá, quỳ xuống tạ Phật. Vì quả thật 2 câu thơ của chú tiểu ăn khớp với 2 câu của sư cụ, thành bài tứ tuyệt mà Trần Trọng San đã dịch như sau: 

Mồng ba, mồng bốn, trăng mờ 
Nửa dường móc bạc nửa như cung trời 
Một bình ngọc trắng chia hai 
Nửa chìm đáy nước nửa cài từng không 

Làm xong bài thơ này lúc nửa đêm, sư cụ bảo chú tiểu đánh chuông tạ ơn Phật. Tình cờ đêm hôm đó trên thuyền, thi sĩ Trương Kế cũng không ngủ được vì không nghĩ được câu tiếp cho hai câu "Nguyệt lạc ô đề...". Tự nhiên chuông chùa Hàn San đổ đến, gợi hứng cho thi nhân hoàn tất bài Phong Kiều Dạ Bạc "...Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.." 

Còn chùa Hàn San là một ngôi chùa hẻo lánh ngoài thành Ngô Huyện thuộc tỉnh Giang Tô. Xung quanh bát ngát rừng mai, phía sau dòng sông xanh ngắt lững lờ uốn khúc, giữa hai dãy núi sừng sững vươn mình trong làn mây trắng xóa. Chùa ở bên cầu có cây phong nên gọi là Phong Kiều. Trên sông đêm có ánh lửa chài. Bài thơ của Tần Thục đời Tống có câu: " Ô đề nguyệt lạc kiều biên tự "(Quạ kêu trăng xế chùa bên cầu) và thơ Khang Hữu Vi đời Thanh, có câu "Lãnh tận Hàn San cố tự phong (Lạnh đến cả cây phong bên chùa cổ Hàn San) đều nói rõ chùa Hàn San bên cầu có cây phong. Như vậy, Giang phong và Ngư hỏa trong bài thơ trên vẫn là cây bên sông và lửa chài, chứ không phải là tên 2 quả núi Giang Phong và Ngư Hỏa như một vài giả thuyết đã nói. 

Nhà thơ đời Thanh Vương Ngư Dương, từng đáp thuyền đi Tô Châu, dừng ở bến Phong Kiều, lúc ấy trời xẩm tối, mưa gió đầy trời, họ Vương đã đến bên trước cửa chùa đề hai bài thơ tứ tuyệt: 

Nhật mộ đông đường chính lạc triều 
Cô bồng bạc xứ vũ tiêu tiêu 
Sơ chung dạ hỏa Hàn San tự 
Ký quá Ngô phong đệ kỷ kiêu 

Dịch nghĩa: 
Chiều tối bờ đông chính lúc thủy triều xuống 
Thuyền côi chốn đậu mưa dầm dề 
Tiếng chuông thưa, ánh lửa đêm chùa Hàn San 
Nhớ đã qua cầu bên cây phong huyện Ngô 

Dịch thơ: 
Chiều tối thủy triều lắng mé đông 
Mưa vương lất phất đậu cô bồng 
Hàn San ánh lửa chuông thưa thớt 
Ngô huyện qua cầu kế ngọn phong 
(Bản dịch: NDD) 

Phong diệp tiêu tiêu thủy dịch không 
Ly cư thiên lý trướng nan đông 
Thập niên cựu ước Giang Nam mộng 
Độc thính Hàn San bán dạ chung 

Dịch nghĩa: 
Lá phong hiu hắt bến nước vắng không 
Lìa quê ngìn dặm lòng buồn nhớ khó khuây 
Mười năm ước cũ mộng về Giang Nam 
Một mình nghe tiếng chuông chùa Hàn San lúc nửa đêm 


Bến vắng rào rào trút lá phong 
Nhớ quê vạn lý khó khuây lòng 
Giang Nam hẹn ước mười năm mộng 
Chuông đánh, Hàn San đêm quạnh không 
(Bản dịch: NDD) 

Đã nói đến Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế, không thể không nhắc đến Bạc Tần Hoài của Đỗ Mục. Cả hai bài thơ phác họa dưới góc nhìn thi nhân trên con thuyền hững hờ đậu bãi sông. Một bài khi nghe tiếng chuông chùa thanh thoát đưa tới, đã xoa dịu đi nỗi trầm tư muội phiền của kẻ nhất thời bôn tẩu, đang nằm co ro khắc khoải trong khoang thuyền giá lạnh. Còn một bài thì khi nghe khúc hát văng vẳng của cô gái trẻ trên sông vang lên trong khung cảnh đêm khuya tĩnh lặng, mà dường như dấy nên niềm xúc cảm u hoài trong nỗi hận mất nước. 


Bạc Tần Hoài 
Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa 
Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia 
Thương nữ bất tri vong quốc hận 
Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa 
(Đỗ Mục) 

Dịch nghĩa: 
khói lan tỏa trên nước lạnh, ánh nguyệt lan trên cát 
Buổi đêm đậu thuyền tại bến sông Tần Hoài cạnh quán rượu 
Cô gái trẻ không biết đến nỗi hận mất nước 
Ở bên kia sông còn hát khúc Hậu Đình Hoa 

Tần Hoài: Tên con sông từ tỉnh Giang Tô chảy lên phía Bắc vào sông Trường Giang. 
Hậu Đình Hoa: tên khúc hát làm trong buổi tiệc của vua Trần Hậu Chủ và Trương Quý Phi thời Nam Bắc triều 

Dịch thơ: 
Thuyền Đậu Sông Tần Hoài 
Khói trùm nước lạnh, trăng lồng cát; 
Thuyền đậu Tần Hoài, cạnh tửu gia. 
Cô gái không hay buồn nước mất, 
Bên sông còn hát Hậu Đình Hoa 
(Bản dịch: Trần Trọng San) 

Khói lan phảng phất trên mặt nước, ánh trăng soi bóng trên mặt cát, thuyền nhẹ lững lờ đậu cạnh quán rượu. Cảnh trăng khuya mới tĩnh mịch làm sao. Bỗng bên kia sông vang lên một tiếng hát văng vẳng. Khúc hát trong những buổi yến tiệc vui chơi mà khiến lòng thi nhân chua xót như oán trách ai vô tình khi bồi hồi nghĩ đến nỗi hận mất nước....


Đến Hàn San tự để tìm hiểu bài thơ Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế

Trong chuyến đi Trung Quốc vừa qua, chúng tôi đã có dịp tới thành phố Tô Châu, nơi có ngôi chùa Hàn San nổi tiếng. 

Ngôi chùa này được xây dựng từ thời Nam Triều (đầu thế kỷ thứ VI) và đã được đặt tên là Diệu Lợi tự. Về sau chùa được gọi là Phong Kiều tự vì ở gần cầu Phong Kiều. Đến đời nhà Đường vì có hai thiền sư là Hàn San và Thập Đắc đến trụ trì ở đó nên chùa lại được đổi tên là Hàn San tự. 

Chùa từ thời đó đến nay đã trải qua nhiều lần trùng tu nên không còn giữ được kiến trúc ban đầu nữa. 

Nếu so với các ngôi chùa khác ở Trung Quốc thì chùa Hàn San không có gì đáng kể về mặt kiến trúc nhưng lại rất nổi tiếng nhờ có bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế. 

Nguyên văn bài thơ ấy được truyền tụng như sau: 

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, 
Giang phong ngư hoả đối sầu miên. 
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, 
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.và đã được khắc vào bia để ở trong chùa. 

Bài thơ chỉ có bốn câu với 28 chữ nhưng đã gây ra khá nhiều vấn đề tranh luận. 

Câu 1: 
Có người cho rằng câu 1 phải đọc như sau: 

Nguyệt lạc Ô Đề sương mãn thiênvà phải hiểu là: 

Trăng lặn ở núi Ô Đề (1), trời đầy sương."Ô Đề" như vậy không còn là tiếng quạ kêu mà đã trở thành một sơn danh vì người ta cho rằng ban đêm không làm gì có tiếng quạ kêu. Nhưng cách hiểu này đã không được ai theo vì các con quạ vẫn có thể bất thường kêu về ban đêm. 

Trong thơ văn Trung Quốc, Lý Bạch đã có bài thơ Ô dạ đề và Kim thị trong bài Tự thuật cũng đã có câu: "Không phòng dạ dạ văn đề ô" (Đêm đêm nghe thấy tiếng quạ kêu ngoài phòng vắng vẻ). 

Trong văn thơ Việt Nam, Quách Tấn cũng có bài Đêm thu nghe quạ kêu và ông đã liên tưởng đến bến Phong Kiều trong bài thơ của Trương Kế và đã viết: 

Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng.

Câu 2: 
Câu này cũng bị đặt thành vấn đề. 

Nguyên do vào đời Thanh có Mao Tiên Thư cho rằng: "Ở Tô Châu đối diện với chùa Hàn San có núi Sầu Miên nên câu 'Giang phong ngư hoả đối sầu miên' không thể hiểu là cây phong bên bờ sông và ánh đèn thuyền chài lấp lánh trước mặt khách (tác giả) đã làm cho khách xa nhà nhớ quê không sao ngủ được." 

Ý kiến này đã bị Trương Duy Minh, tác giả quyển Hàn San tự (2) bác bỏ vì cho rằng bài thơ chỉ có bốn câu, ba câu đã tả cảnh rồi thì câu "Giang phong ngư hoả đối sầu miên" phải là câu tả tình mới đúng. 

Điều này cũng hợp lý. Chính vì lẽ ấy mà tất cả các quyển Đường thi tam bách thủ chú giải và Thiên gia thi chú giải đều giảng "sầu miên" là "ưu sần bất đắc thành niên". Chỉ có một quyển Hội đồ Thiên gia thi của Chung Bá Kính chú giải đã giảng "sầu miên" là sơn danh như Mao Tiên Thư đã chủ trương. 

Chúng tôi cho rằng cả hai nhà chú giải ấy đều chưa có dịp về tới chùa Hàn San cũng như mấy hoạ sĩ người Trung Quốc đã minh hoạ bài Phong Kiều dạ bạc mà cứ vẽ cầu Phong Kiều và chùa Hàn San ở bên ngọn núi. 

Có thể vì tên chùa Hàn San có chữ "san"là núi nên các vị ấy mới nhầm lẫn như vậy. 

Chúng tôi khi về tận chùa Hàn San, đứng ở bến Phong Kiều bên Đại Vận hà, nhìn quanh bốn phía đều không thấy có ngọn núi nào ở gần, chỉ nghe nói ở tận xa, xa không nhìn thấy được, mới có núi Linh Nham sơn, Thiên Bình sơn, Thiên Địa sơn, Sư Tử sơn, Hoành Sơn, Hà Sơn... 

Thế thì Trương Kế, nằm trong khoang thuyền mà có nhìn ra ngoài cũng chỉ thấy có những cây phong và những ngọn đèn chài, chứ làm sao có thể đối mặt được với "ngọn núi Sầu Miên", một ngọn núi không có thực ở bên chùa. 

Để minh chứng cho điều sai lầm, chúng ta có thể xem bức ảnh chụp bến Phong Kiều với mấy chiếc thuyền đậu ở bên cầu, cửa Thiết Linh quan và ngọn tháp Phổ Minh ở phía sau chùa Hàn San. 

Câu 3-4: 
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, 
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.Hai câu này cũng gây thắc mắc cho người đọc vì vào lúc nửa đêm làm gì có tiếng chuông chùa. 

Vấn đề này cũng có nhiều ý kiến khác nhau. 

Ấu Dương Tu thì cho rằng: "Thi nhân tham cầu hảo cú nhi lý bất thông giả, diệc ngữ bệnh dã" (Nhà thơ vì muốn đặt câu cho hay nên lý không được thông, đó là một ngữ bệnh vậy). 

Sô Nghiêu trong quyển Đường thi tam bách thủ độc bản thì cho rằng: "Hậu nhân dĩ vi dạ bán vô chung thanh tương cấu bệnh, vị miễn xuy mao cầu tì". (Người đời sau lấy cớ nửa đêm không có tiếng chuông và cho là một ngữ bệnh, như thế thì chưa tránh khỏi cái thói bới lông tìm vết.) 

Diệp Thiếu Uẩn trong Thạch lâm thi thoại lại cho rằng: "Cái công vị thường chí Ngộ trung(3), kim Ngô trung tự thực bán dạ đả chung." (Vì ông không thường tới Ngô trung chứ hiện nay chùa ở đó vào lúc nửa đêm có đánh chuông thật.) 

Chúng tôi cho rằng về ban đêm, ở các chùa thường không có đánh chuông nhưng cũng có những trường hợp cúng lễ bất thường nên "dạ bán chung thanh"cũng không phải là vô lý. 

Chính vì lẽ đó mà các nhà thơ từ đời Tống trở về sau mỗi lần qua bến Phong Kiều đều nhớ đến Trương Kế với cảnh "nguyệt lạc", "ô đề" và "dạ bán chung thanh." 

Nhà thơ Lục Du đời Tống trong bài Túc Phong Kiều đã viết: 
Thất niên bất đáo Phong Kiều tự 
Khách chẩm y nhiên bán dạ chung. 
(Bảy năm không tới thăm lại chùa Phong Kiều, 
Nằm gối đầu ngủ lại ở đất khách nghe tiếng chuông chùa đánh lúc nửa đêm thấy vẫn y như cũ).Nhà thơ Tôn Địch cũng đời Tống trong bài Phong Kiều đã viết: 
Ô đề nguyệt lạc kiều biên tự, 
Ỷ chẩm do văn bán dạ chung. 
(Quạ kêu, trăng lặn, cầu ở bên chùa, 
Nằm gối đầu ngủ còn nghe thấy tiếng chuông nửa đêm.)Nhà thơ Cố Trọng Anh đời Nguyên trong bài Bạc Xương môn đã viết: 
Tây phong chỉ tại Hàn San tự, 
Trường tống chung thanh giảo khách miên. 
(Chỉ tại chùa Hàn San mà gió tây 
Đưa xa tiếng chuông tới quấy động giấc ngủ của khách.)Nhà thơ Cao Khải đời Minh trong bài Phong Kiều đã viết: 
Kỷ độ kinh qua ức Trương Kế, 
Ô đề nguyệt lạc hựu chung thanh. 
(Mấy lần qua Phong Kiều đều nhớ Trương Kế, 
Quạ kêu, trăng lặn với tiếng chuông nửa đêm.)Nhà thơ Văn Trưng Minh đời Minh trong bài Phong Kiều đã viết: 
Thuỷ minh nhân tĩnh Giang thành cô, 
Y nhiên lạc nguyệt đề sương ô. 
(Nước trong, lòng tĩnh, Giang thành vắng, 
Trăng lặn, quạ kêu trong sương vẫn y như cũ.)Qua các câu thơ ấy, chúng ta thấy các nhà thơ xưa ở Trung Quốc cũng đều nhắc lại cảnh "quạ kêu", "trăng lặn" và "tiếng chuông nửa đêm" như là những sự việc rất bình thường, không có gì đáng thắc mắc cả. 

Nguyễn Hàm Ninh xưa, ở nước ta, cũng đã hiểu như vậy nên đã dịch bài thơ của Trương Kế sang thể lục bát như sau: 
Quạ kêu, trăng lặn, trời sương, 
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ. 
Thuyền ai đậu bến Cô Tô, 
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.Bài thơ dịch này, trước đây người ta đã nhầm là của Tản Đà, được kể là hay, chỉ tiếc là ông đã bỏ mất chữ giang phong và đã nhầm bến Phong Kiều là bến Cô Tô và cũng chưa diễn đạt được vai trò chủ thể của tiếng chuông chùa Hàn San nhưng nó vẫn được kể là bài dịch hay nhất từ trước đến nay. 

Vậy để kết luận cho bài viết này, chúng tôi thấy cần phải đến tận chùa Hàn San để tìm hiểu cho được chính xác bài thơ Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế, nếu không sẽ có những nhầm lẫn đáng tiếc trong việc chú thích và minh hoạ như đã nói ở trên.

Nguyễn Quảng Tuân 
(1) Có người cho là thôn Ô Đề 
(2) Hàn San tự: sách do Trương Duy Minh biên soạn, Cổ Ngô Hiên xuất bản xã in năm 1993 ở Tô Châu. 
(3) Ngô trung: tên cũ của thành phố Tô Châu. 
(4) Hội đồ Thiên gia thi: Nhật Tân thư trang xuất bản, không đề.


Đọc lại “Phong Kiều dạ bạc”
Gần như, bất cứ ai đam mê thơ cũng đều ước mơ đến những nơi như Hoàng Hạc Lâu ở huyện Vũ Xương thuộc tỉnh Hồ Bắc hay bến Phong Kiều bên Hàn San tự ở Tây huyện thuộc tỉnh Giang Tô... Đó là những địa danh nổi tiếng và tồn tại muôn đời với những bài thơ bất tử được lưu truyền như Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu hay Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế,... Nhưng qua bao nhiêu năm, thường những mơ ước đó vẫn còn y nguyên là ước mơ. 

Nhân đọc bài "Đến Hàn San tự để tìm hiểu bài thơ Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế" của tác giả Nguyễn Quảng Tuân, tôi động lòng lắm, không biết làm sao hơn, đành giở những trang sách cũ, đọc lại bài thơ tuyệt tác này. 

Trương Kế vốn là nhà thơ nổi tiếng của thời Thịnh Đường nhưng người ta quên mất năm sinh và năm mất của ông, chỉ biết ông sinh thời vào khoảng những năm trước và sau 756, niên hiệu Chí Đức, đời Đường Túc Tông. Sinh quán của ông ở Tương Châu, nay thuộc tỉnh Hồ Bắc. Ông là người thông thái, có kiến thức rộng, say mê đàm luận. 

Ông đậu tiến sĩ vào năm thứ 12 niên hiệu Thiên Bảo. Ông từng giữ nhiều chức vụ khác nhau, khi mất ông đang làm tài phú ở Hồng Châu. Trương Kế chỉ để lại một tập thơ, trong đó nổi tiếng nhất là bài Phong Kiều dạ bạc, tức là Ban đêm thuyền đậu bến Phong Kiều. 

Nhân bài viết của tác giả Nguyễn Quảng Tuân có đặt nhiều nghi vấn về những dữ kiện trong bài thơ này, mà những điểm đó đươc ghi nhận qua nhiều tác phẩm biên khảo văn chương của Trung Quốc. Trong khả năng giới hạn của bài viết này, tôi không thảo luận về những nghi vấn được nêu ra, để đưa đến những kết luận thế này hay thế nọ, hoặc đúng hay sai. Mà mục đích của bài viết này, tôi chỉ xin góp vào một chút dữ kiện để bổ túc mà thôi. 

Bài Phong Kiều dạ bạc chỉ vỏn vẹn có bốn câu: 
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, 
Giang phong ngư hoả đối sầu miên. 
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, 
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.Nguyên bản bài thơ này bằng chữ Hán không có các dấu phết và dấu chấm ở cuối các câu. Nhưng tuỳ theo ý nghĩa của thơ, các tác giả đời sau đã phân đoạn và ngưng câu để thêm các dấu phết và chấm vào. Sự kiện này hay xảy ra, như trường hợp quyển Đạo Đức Kinh của Lão Tử được viết vào khoảng năm 500 đến 450 trước Tây Lịch. Đạo Đức Kinh được khắc trên các thẻ tre, không có dấu chấm phết, nhưng nhiều tác giả đời sau đã tuỳ theo cách đọc mà phân đoạn khác nhau. Mỗi khi các dấu chấm phết xê dịch thì ý nghĩa trong Đạo Đức Kinh thay đổi rất nhiều, có khi khác hẳn nhau. 

Trở lại trường hợp bài thơ Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế, tựu trung tác giả Nguyễn Quảng Tuân cũng theo các tác giả đời trước nên bản viết có các dấu phết ở cuối câu một và câu ba, và dấu chấm ở cuối câu hai và câu bố. 

Trong bài viết tác giả Nguyễn Quảng Tuân có đưa ra vài nghi vấn như sau: 
1. Nghi vấn về những chữ bị xem là địa danh như ô đề trong câu một và sầu miên trong câu hai. 
2. Quạ có kêu trong đêm hay không? 
3. Chùa Hàn San nói riêng hay chùa nói chung, có đánh chuông vào nửa đêm hay không? 

Tôi xin góp vào một số ý kiến bổ túc như thế này. 
1. Tuỳ theo cách đọc, ta thử ngắt câu bằng các dấu chấm và phết. 
Câu một: 
Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên, (a) 
(Cách ngắt câu và chữ theo tác giả Trần Trọng San) (1) 

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, (b) 
(Cách ngắt câu và chữ theo tác giả Nguyễn Quảng Tuân)Bây giờ tôi ngắt câu và chữ khác đi đôi chút: 

Nguyệt lạc ô đề, sương mãn thiên, (c)Khi đọc, nếu ngắt câu khác nhau ý nghĩa câu thơ có thể khác nhau: 

Trăng lặn, quạ kêu, trời đầy sương, (a) 
Trăng lặn quạ kêu trời đầy sương, (b) 
Trăng lặn trên núi Ô Đề, trời đầy sương, (c)Như vậy, tuỳ theo cách ngắt câu, ô đề có thể là địa danh. 

Nếu xét thêm về yếu tố địa dư, ở đất Ngô huyện thuộc tỉnh Giang Tô không có núi nào tên là Ô Đề. 

Nếu xét về ý thơ, với tài thơ của Trương Kế, thi nhân đang ngao du thuyền trên sông và đậu lại ở bến Phong Kiều, cảnh sắc hữu tình như vậy, không có lý do gì ông lại mô tả cảnh sắc trên núi Ô Đề ở mãi tận đâu xa (nếu quả thật có núi Ô Đề đi nữa). Thêm vào đó, trên thuyền ở bến Phong Kiều, như tác giả Nguyễn Quảng Thân đã nói, chưa chắc gì đã thấy được núi Ô Đề (nếu có). Dù cho ở thời Trương Kế, dân cư thưa thớt, nhà cửa ít oi và nhỏ thấp. 

Trong các cách ngắt câu khác nhau, tôi thích cách của tác giả Trần Trọng San hơn: 

Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiênĐến nghi vấn về chữ “sầu miên” trong câu hai: 

Giang phong, ngư hoả đối sầu miên. (2)Về địa dư, đất Ngô huyện thuộc tỉnh Giang Tô không có núi nào tên là Sầu Miên. Theo tác giả Nguyễn Quảng Tuân, có lẽ tên chùa là Hàn San, san có nghĩa là sơn, là núi, nên có tác giả đã nghĩ như vậy. 

Theo sách sử Trung Hoa để lại, vào đời đường cách 10 dặm ở phía tây đất Ngô huyện thuộc tỉnh Giang Tô có ngôi chùa do hai nhà sư tên là Hàn San và Thập Đắc trụ trì. Như vậy, người ta đã lấy tên của vị sư trụ trì để đặt tên cho ngôi chùa. 

Hơn nữa, về ý thơ, nếu tác giả nào cho chữ Sầu Miên là tên một ngọn núi thì người ấy quả tình đã xem thường Trương Kế quá nhiều. Với tài thơ Trương Kế, chúng ta có thể quả quyết được rằng, sầu miên không phải là tên một ngọn núi. 

2. Đến nghi vấn, quạ có kêu trong đêm hay không? 
Thông thường, nói đến quạ người ta nghĩ ngay đến quạ đen. Tôi chưa hề thấy quạ trắng bao giờ. Chỉ có một loài quạ hiếm quý, không đen hoàn toàn là loài quạ khoang ở miền Bắc và Bắc Trung phần. Loài quạ này cũng đen gần hết, chỉ có ánh đỏ tím và khoang trắng ở cổ và ngực. Theo tôi biết, loài quạ có kêu trong đêm, thường là lúc gần sáng. Quạ có khi đi riêng rẻ hay từng bầy, đến đậu trên những cây cao, kêu đến đinh tai nhức óc. 

Trong bài thơ, Trương Kế chỉ rằng nửa đêm, có thể là nửa đêm về sáng. Loài quạ có thể kêu sớm hơn, chuyện này,tôi thiết tưởng không nên đặt thành vấn đề. Hơn nữa, nhà thơ Quách Tấn của chúng ta cũng có bài thơ "Đêm thu nghe quạ kêu" (3) 

3. Chùa Hàn San nói riêng hay chùa nói chung có đánh chuông về đêm hay không? 
Chúng ta đều biết chùa nào cũng đánh chuông công phu, thường khoảng ba hay bốn hoặc năm giờ sáng, tuỳ nơi. 

Theo sử sách Trung Hoa viết lại, căn cứ vào tài liệu của tác giả Trần Trọng San (4), tôi xin ghi lại câu chuyện về Trương Kế và bài Phong Kiều dạ bạc. Chuyện này giải thích rất rõ ràng về tiếng chuông chùa Hàn San vào lúc nửa đêm. 

Chuyện ghi rằng, vào đêm Trương Kế đậu thuyền tại bến Phong Kiều, không phải chỉ có một mình thi nhân không ngủ được mà có đến hai người khác nữa cũng trằn trọc không sao an giấc. Hai người này say mê thơ, chắc cũng không kém nhà thơ Trương Kế. Người thứ nhất là sư cụ trụ trì chùa Hàn San. Nhà sư thao thức không ngủ được, có lẽ vì cảnh sắc quá đẹp ở bến Phong Kiều chăng, nên suy tư để làm một bài thơ thất ngôn tuyệt cú. Nhưng nhà sư chỉ làm được hai câu đầu rồi bị ngưng trệ ở đó, không sao làm tiếp được. Lúc đó, nhà thơ Trương Kế ở dưới thuyền cũng thao thức vì cảnh đẹp thiên nhiên và làm chỉ được hai câu đầu mà thôi. Nhà thơ không nghĩ ra được hai câu tiếp. 

Trong khi đó có người thứ ba cũng trằn trọc trong đêm là chú tiểu trong chùa. Chú tiểu cũng là người say mê thơ. Lúc đó, sư cụ trụ trì thấy chú tiểu còn thức bèn đưa hai câu thơ mà nhà sư làm ra nhưng không thể làm tiếp được kể kết thúc bài thơ. Chú tiểu vừa đọc qua hai câu đầu của sư cụ liền viết ra ngay hai câu sau. Sư cụ đọc qua, ráp nhau lại, nhận thấy cả bài thơ bốn câu hay quá. Nhà sư mừng rỡ, cho rằng Phật Tổ đã linh thiêng giúp đỡ cho hai người. Sư cụ bảo chú tiểu thắp hương, thỉnh chuông để tạ ơn Phật. Tiếng chuông chùa Hàn San vang ra trong đêm. Lúc đó, Trương Kế đang thao thức suy nghĩ về hai câu thơ sau, thì tiếng chuông chùa Hàn San vang ngân lên, lập tức nhà thơ viết liền ra hai câu sau, hoàn thành bài thơ tuyệt tác để lại cho đời sau.

Cảnh sắc lúc đó, sương phủ mờ cả dòng sông và bến đậu, trăng xế ngang đầu. Chiếc thuyền của nhà thơ Trương Kế đậu lẻ loi bên bến Phong Kiều. Trên bờ, ngoài thành Cô Tô, chùa Hàn San mờ ảo trong đêm. Tiếng chuông chùa ngân vang, lay động cả màn sương và bật mở hồn thơ Trương Kế. 

Bài thơ Phong Kiều dạ bạc thật tuyệt. 
Chúng ta đọc lại lần nữa nhé. 

Câu đầu, thơ đi nhịp nhàng, lửng thửng như nhà thơ đang nhàn du trong sương, dưới trăng: 

Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên,Câu hai, thơ như chậm lại bên hàng cây phong, dưới sông thấp thoáng ánh lửa thuyền chài, đêm buồn dịu lặng, ray rức: 

Giang phong, ngư hoả đối sầu miên.Câu ba, thơ sực tỉnh, như dừng lại, ngoài trăng, sương, sông, nước, còn ngôi chùa ẩn hiện trong đêm: 

Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự,Câu cuối, thơ ngỡ ngàng trước tiếng chuông chùa ngân vang trong lòng đêm yên lặng, giửa đêm tịch mịch, sương như lung lay, nước như gờn gợn, khách trong thuyền xao xuyến cả tâm hồn: 

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.Đã có nhiều tác giả dịch bài thơ Phong Kiều dạ bạc sang tiếng Việt. Bản dịch tiếng Việt qua thể lục bát, theo tác giả Trần Trọng San, bản này của thi sĩ Tản Đà (5), nhưng tác giả Nguyễn Quảng Tuân đã đính chánh, bản dịch đúng ra là của thi sĩ Nguyễn Hàm Ninh, nhưng không thấy dẫn chứng. 

Theo Trần Trọng San, bản dịch của Tản Đà như thế này: (6) 
Trăng tà, tiếng quạ kêu sương, 
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ. 
Thuyền ai đậu bến Cô Tô, 
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.Bản dịch, theo Nguyễn Quảng Tuân là của Nguyễn Hàm Ninh (7), có vài điểm không giống hẳn như bản trên: 

Quạ kêu, trăng lặn, trời sương, 
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ. 
Thuyền ai đậu bến Cô Tô, 
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.Tôi ghi cả hai bản dịch ra đây để tiện đối chiếu. 

Ngoài các bản dịch bài Phong Kiều dạ bạc ra tiếng Việt mà tác giả Nguyễn Quảng Tuân đã dẫn trong tạp chí Văn học số 191, tháng 03 năm 2002, tôi xin bổ túc hai bài dịch ở thể thất ngôn tứ tuyệt của hai tác giả Trần Trọng San và Nguyễn Hà. 

Bản dịch ra chữ Việt của tác giả Trần Trọng San: 
Ban đêm thuyền đậu bến Phong Kiều (8) 
Trăng tà, tiếng quạ vẳng sương rơi, 
Sầu đượm hàng phong, giấc lửa chài. 
Ngoài luỹ Cô Tô, chùa vắng vẻ, 
Nửa đêm chuông vẳng đến thuyền ai.Bản dịch của Trần Trọng San, cùng thể, vừa giữ được ý thơ lãng mạn lại vừa giữ được nét cứng cỏi của thất ngôn. Bản dịch, tôi thiết nghĩ đáp được hai yêu cầu của tác giả Nguyễn Quảng Tuân, thứ nhất là Cô Tô là thành luỹ chứ không phải bến và thứ hai là tính chủ động của tiếng chuông chùa ở câu bốn. 

Cô Tô vốn là tên ngọn núi ở phía tây nam Ngô huyện, thuộc tỉnh Giang Tô. Chính ở đây, xưa vào thời Đông Chu (770 đến 314 trước Công nguyên), Ngô vương Phù Sai đã xây đài cho Tây Thi. Vì thế mà tác giả Trần Trọng San dùng chữ "luỹ" ở câu ba trong bài dịch ra tiếng Việt. 

Tuy nhiên, trong bài dịch, ở câu một tác giả Trần Trọng San đã đi hơi xa, dịch thoát ý, khỏi chữ "mãn" nghĩa là đầy, và chữ "thiên" nghĩa là trời, khiến cho "trời đầy sương" thành ra "vẳng sương rơi". 

Bản dịch ở thể thất ngôn tứ tuyệt của tác giả Nguyễn Hà: 
Đêm đậu thuyền ở bến Phong Kiều 
Tiếng quạ kêu sương, nguyệt cuối trời 
Bờ phong sầu hắt lửa thôn chài 
Hàn Sơn chuông vẳng Cô Tô lại 
Khuya khoắt lay thuyền động giấc ai... (9). Bản dịch của tác giả Nguyễn Hà không ổn vì: 
(1) ở câu một: quá thoát ý, 
(2) ở câu hai: lạc ý vì chỉ có ánh lửa chài chứ không có thôn chài, 
(3) câu ba và bốn: vừa đảo ý vừa lạc ý vì câu ba xác định vị trí của chùa Hàn San và ở câu bốn tiếng chuông lay khách trên thuyền chứ không lay chiếc thuyền. 

Theo tôi, bản dịch ở thể thất ngôn tứ tuyệt hay nhất là bản của tác giả Trần Trọng San. 

Còn bài thơ của sư cụ trụ trì và chú tiểu ở chùa Hàn San cũng được sách ghi lại: 
Hai câu của sư cụ là: 
Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung, 
Bán tự ngân câu, bán tự cung. 

Nghĩa là: 
Mồng ba, mồng bốn, mặt trăng mờ mờ, 
Nửa như móc bạc, nửa tựa cái cung.Và hai câu tiếp theo của chú tiểu là: 

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn, 
Bán trầm thuỷ để, bán phù không. 

Nghĩa là: 
Một chiếc bình ngọc chia làm hai mảnh, 
Nửa chìm đáy nước nửa nổi trên trời.Tác giả Trần Trọng San có dịch bốn câu thơ trên gồm hai câu của sư cụ và hai câu của chú tiểu: 

Mồng ba mồng bốn trăng mờ, 
Nửa dường móc bạc, nửa như cung trời. 
Một bình ngọc trắng chia hai, 
Nửa chìm đáy nước, nửa cài từng không. (10)Dĩ nhiên, chúng ta không thể so sánh hai câu của sư cụ và hai câu của chú tiểu với bốn câu thơ của Trương Kế được. Một bên là những người bình thường với hồn thơ dào dạt, làm được những câu thơ như thế cũng xứng đáng được tán thưởng lắm rồi. Lẽ nào, chúng ta so sánh bài thơ đó với bốn câu thơ của Trương Kế, là người đã nổi tiếng về tài thơ trong thời Thịnh Đường. 

Về sau, vào đời nhà Thanh, học giả Khang Hữu Vi có dựng một tấm bia khắc lại bài thơ Phong Kiều dạ bạc, để trong chùa Hàn San (11).

Trần Long Hồ 
(1) Thơ Đường, Trần Trọng San, cuốn một, trang 114, NXB Bắc Đẩu, in lần thứ ba 1972, lần hai 1966, lần một 1957. 
(2) Thơ Đường, sách đã dẫn, trang 114. 
(3) Việt Nam thi nhân tiền chiến, Nguyễn Tấn Long - Nguyễn Hữu Trọng, quyển trung, trang 592, NXB Xuân Thu. 
(4) Thơ Đường, sách đã dẫn, trang 114. 
(5) Tạp chí Văn học, số 191, tháng 03 năm 2002, trang 36. 
(6) Thơ Đường, sách đã dẫn, trang 115. 
(7) Tạp chí Văn học, số 191, tháng 03 năm 2002, trang 36. 
(8) Thơ Đường, sách đã dẫn, trang 116. 
(9) Đường thi tứ tuyệt, Nguyễn Hà, NXB Văn Hoá Thông Tin, 1996, trang 209. 
(10) Thơ Đường, sách đã dẫn, trang 116. 
(11) Đường thi tinh tuyển, Duy Phi, NXB Văn Hoá Dân Tộc, Hà Nội, 2001, trang 247.


Bản dịch của Trần Trọng San
Trăng tà tiếng quạ vẳng sương rơi 
Sầu đượm hàng phong giấc lửa chài 
Ngoài lũy Cô Tô chùa vắng vẻ 
Nửa đêm chuông vẳng đến thuyền ai.

Bản dịch của Trần Trọng Kim
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi 
Lửa chài, cây bãi đối người nằm co 
Con thuyền đậu bến Cô Tô 
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
Nguồn: Trần Trọng Kim, Đường thi, NXB Văn hoá thông tin, 1995

Bản dịch của Hải Đà
Tiếng quạ kêu sương bóng nguyệt mờ 
Cầu phong đốm lửa giấc sầu mơ 
Hàn Sơn khuất bãi Cô Tô vắng 
Đêm điểm hồi chuông khách sững sờ...


Bản dịch của Hải Đà
Nguyệt tà, quạ lảnh lót kêu sương 
Ánh lửa cầu phong vỗ mộng thường 
Bến vắng Cô Tô thuyền lẻ bóng 
Hàn Sơn rền rĩ khách nghe chuông.

Bản dịch của Hải Đà
Trăng lặn, sương đầy, tiếng quạ kêu 
Bến phong, ánh lửa, giấc đìu hiu 
Cô Tô quạnh quẽ thuyền neo bến 
Chuông đổ Hàn Sơn vẳng tiếng đều.

Theo thivien.net

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget